Web 2.0 Vietnam Logo

Web 2.0 Việt Nam: Các Mạng Xã Hội

Tổng hợp, Web 2.0 Blog, Đánh giá November 7th, 2007


Đã hơn một năm kể từ khi tôi xem xét các ứng viên của Web 2.0 tại Việt Nam. Đó là một thời điểm không xa nhưng lúc đó web 2.0 chỉ là một khái niệm khá mới mẻ và chưa có Web 2.0 nào đúng nghĩa ở Việt Nam. Nhưng đến hôm nay các trang web 2.0 thực sự đã xuất hiện, hoạt động và thành công. Welcome to Vietnam — new destination of Web 2.0!

Mở đầu loại bài này, tôi xin bắt đầu bằng đánh giá các mạng xã hội (social network). Đây sẽ là tâm điểm của web 2.0 trong tương lai tại Việt Nam, mặc dù trên thế giới các Facebook, MySpace, Friendster đã làm mưa làm gió trong thời gian khá dài.

Yahoo! 3600

Co Gai Do Long’s Blog

Tôi xin nhắc tới mạng xã hội đang bị bỏ rơi này bởi ảnh hưởng sâu rộng của nó tại Việt Nam. Thực tế, khó có thể nói đây là một mạng xã hội hoàn chỉnh vì chức năng mà người ta dùng nhiều nhất lại là blog.

Ưu điểm chính của Y!360 là dễ sử dụng và nó gắn chặt với Yahoo!IM, mạng chat phổ biến nhất tại Việt Nam. Chỉ cần một vài bước là bạn có thể tạo một blog với một hình nền riêng rồi mời bạn bè trong nhóm chat của mình tới coi, bình luận. Nhưng hành trình tùy biến của Y!360 đến đó là gần như kết thúc.

Tôi luôn tự hỏi Yahoo nhắm tới cái gì khi tạo ra Y!360: một blog có chức năng mạng xã hội hay một mạng xã hội lấy blog làm trung tâm? Thất bại của Y!360 là câu trả lời của người dùng: Chúng tôi thích những gì chuyên nghiệp hơn là các giải pháp nửa vời.

Yahoo biết rằng duy trì Y!360 là vô nghĩa vì mạng XH này chưa bao giờ chiếm được 1% thị phần. Một vài tờ báo cho rằng Yahoo muốn thay Y!360 bằng Mash nhưng rõ ràng Mash không dành cho dân amateur. Đây là một trang mash-up, tức là hướng tới việc dùng lại các dịch vụ từ các trang web khác và việc tạo ra các mash-up đòi hỏi trình độ khá cao về web. Còn mảng mạng xã hội có thể sẽ được Yahoo chuyển giao cho một dịch vụ mới có tên là KickStart — một mạng dành cho các sinh viên và cựu sinh viên tương tự Facebook trước đây.

Lang thang qua các trang cá nhân trong Y!360, từ các trang nổi tiếng cogaidolong, Dâu Tây (Joe), Hà Kin tới các blog của nhà thơ Đỗ Trung Quân hay nhạc sĩ Tuấn Khanh và của nhiều bạn khác, là việc rất thú vị. Tôi rút ra được rắng Y!360 đã làm cho khái niệm mạng XH trở nên quen thuộc với người Việt và tạo thói quen viết lách thể hiện mình. Việc Y!360 đóng cửa là một cú sốc với người dùng Việt Nam nhưng đây lại là cơ hội cho các mạng XH và blog nội địa khác.

Ưu: Phổ biến, dễ dùng, tích hợp với Yahoo!IM. Có số lượng người dùng vượt trội tại Việt Nam.
Khuyết: Kém về khả năng tùy biến. Mảng mạng xã hội chưa đầy đủ chức năng. Sắp đóng cửa.
Điểm: 3.5/5

VietSpace

VietSpace

Mạng XH VietSpace không gây nhiều thiện cảm với tôi ở cái nhìn đầu tiên. Cá nhân tôi không thích những website dùng màu sắc thiếu thống nhất và thiết kế UI không cẩn thận. Có vẻ Vietspace muốn hướng tới lứa tuổi teen bằng bảng màu sặc sỡ, tuy nhiên theo tôi dù tuổi teen thích các tone màu sáng, sống động nhưng cũng cần hài hòa hơn.

Khi tôi đang viết các dòng này (1:20 PM ngày 07/11/2007) thì hầu hết các link từ trang chủ của Vietspace không hoạt động (Runtime Error). Các lần truy cập trước cũng khá chậm. Tôi e rằng họ có một chút vấn đề khi lựa chọn nền tảng kỹ thuật (DotNetNuke) cho một mạng xã hội vốn đòi hỏi cao về năng lực xử lý và thời gian đáp ứng.

VietSpace cho phép bạn thêm vào không gian của bạn nhiều module với các chức năng khác nhau, giao diện cũng có thể tùy biến ở mức tương đối cao. Tuy nhiên do hạn chế về mặt thiết kế nên hiếm khi bạn tạo được một giao diện cân đối. Việc đưa các module vào cũng khá phức tạp và dễ gây lỗi. Theo tôi, VietSpace sẽ phải làm nhiều việc để có một nền tảng ổn định và chuyên nghiệp hơn.

Ưu: Ra đời sớm, dễ tùy biến.
Khuyết: Thiết kế xấu. Nhiều lỗi, chưa hoàn chỉnh về mặt công nghệ.
Điểm: 2.5/5

YoBanBe

Yobanbe

Trái ngược với VietSpace, YoBanBe (nếu tôi không nhầm, đây là một trong những web của VinaGame) thể hiện một bộ mặt chuyên nghiêp về thiết kế với nền tone màu xanh lá cây, các đường nét nhã nhặn. Tốc độ và tính ổn định của các chức năng rất tốt chứng tỏ có sự đầu tư sâu về công nghệ.

YoBanBe khá giống với Yahoo!360 về mặt bố cục, chức năng và kết quả là khả năng tùy biến giao diện cũng bị hạn chế như Y!360 nếu không nói là hạn chế hơn. Cũng như Y!360, hầu hết các trang cá nhân trên YoBanBe đều tập chung vào chức năng Blog. Ngoài ra bạn có thể tạo một thư viện ảnh, tham gia vào các CLB theo các chủ đề. Một chức năng mới thú vị hơn cả là phần “Âm Nhạc”, bạn có thể nghe (đương nhiên rồi), bình luận, đánh giá các bài nhạc; tạo và lưu các playlist cho riêng mình.

Nói chung, tôi cảm thấy khá dễ chịu khi dùng mạng xã hội này. Các chức năng không quá rườm rà và rất hợp với cách sử dụng mạng XH của người Việt tức là nhiều tính tự sự hơn việc dùng để mở rộng quan hệ. Theo tôi đây là ứng viên số 1 có thể thay thế Y!360 khi mạng này đóng cửa nếu biết tranh thủ thời cơ.

Ưu: Thiết kế tốt, chức năng tốt. Phù hợp với cách sử dụng của người Việt.
Khuyết: Hạn chế khả năng tùy biến. Quá giống Y!360 nên không tạo dấu ấn riêng.
Điểm: 4/5

CyWorld

CyWorld

Tôi được giới thiệu về CyWorld ngay trước khi mạng này có bản tiếng Việt. Đây là một mạng XH rất thành công của Hàn Quốc. Thực tế, nó gần giống như một xã hội ảo trong đó mỗi người có một đại diện của mình (gọi là Minime) trong thế giới CyWorld. Bạn sẽ phải chăm sóc cả về tinh thần lẫn vật chất cho nhân vật ảo của mình như mua sắm đồ, tạo các quan hệ hàng xóm láng giềng… Phải nói là các nhân vật trong CyWorld trông khá teen theo kiểu avatar hoạt hình đậm chất Hàn Quốc.

Hầu hết hoạt động sẽ diễn ra ở các căn nhà (Minihome) hay căn phòng (Miniroom) nơi bạn có thể trang trí, viết nhật ký, tạo album hình… rồi mời hàng xóm tới chơi, tán gẫu, bình luận… Đương nhiên bạn cũng có thể tới thăm các hàng xóm của mình. Tôi đoán là bạn sẽ phải bỏ ra rất nhiều thời gian (và có thể cả tiền bạc) cho thế giới này không kém chơi game online.

CyWorld có một hệ thống kinh tế riêng, bạn sẽ cần các hạt dẻ để có thể trang bị các đồ đạc cho căn nhà của mình hay quần áo, giày dép cho nhân vật ảo. Ban đầu bạn sẽ được tặng 200 hạt dẻ, còn sau khi tiêu hết thì bạn cần mua thẻ nạp.

Nói chung đây là một mạng XH đã được thử thách cả về mắt công nghệ lẫn ý tưởng. Vấn đề duy nhất là liệu bạn có thích kiểu xã hội này hay không?

Ưu: Giống như một xã hội ảo và hoạt động gần như game online.
Khuyết: Kiều XH ảo này còn khá xa lạ với người Việt.
Điểm: 4.5/5

CyVee

cyvee-home.jpg

CyVee thoạt nhìn khá giống Digg ở chức năng chia sẻ, đánh giá các bài viết hay (và đôi khi không hay lắm ;) ) và giống Yahoo!Anwser ở phần hỏi đáp cộng đồng. Chỉ sau khi bạn đăng ký tài khoản thì mảng mạng XH mới hiện diện rõ ràng.

Bạn sẽ thắc mắc vì cái tên khá lạ tai này, CyVee là cách phiên âm của CV (Curriculum Vitae – Sơ yếu lý lịch). Đúng như cái tên của nó, bạn cần tạo một lý lịch đầy đủ rồi tìm kiếm những đồng nghiệp, bạn học cùng trường để tạo nên một mạng luới nhắm giúp đỡ bạn trong con đường học tập, nghề nghiệp. Đây là một LinkedIn của Việt Nam.

Tôi khá ấn tượng với các chức năng tạo hồ sơ của mạng này. Kinh nghiệm, học vấn, sở thích, thông tin cá nhân là những cái bạn cần đưa vào để hồ sơ của mình đạt 100% mức độ hoàn chỉnh. Một thanh chỉ thị sẽ cho bạn biết mức độ hoàn thành của hồ sơ là bao nhiều phần trăm.

Bạn có thể tạo hoặc tham gia các hội, nhóm theo chủ đề như “Nhóm phát triển web”, “Hội đồng hương miền Trung”… Nếu muốn tham gia nhóm “Web 2.0 Vietnam” thì bạn có thể vào đây.

Có thể thấy CyVee hướng vào đối tượng khác hẳn so với VietSpace hay YoBanBe. Những người tham gia mạng XH này sẽ phải tích cực giao tiếp với các thành viên khác hơn khi cần các lời khuyên hay hướng dẫn trong công việc. Nhìn chung họ thường là những người chuyên nghiệp muốn dùng web như một nền tảng để chia sẻ kinh nghiệm và thiết lập các mối quan hệ nghề nghiệp.

Ưu: Giao diện sáng sủa, chức năng khá tốt. Mạng liên kết nghề nghiệp đầu tiên mà tôi biết ở Việt Nam.
Khuyết: Có nhiều chức năng khác nhau nên chưa nêu bật mảng mạng XH.
Điểm: 4/5

Tổng Kết

Mới chỉ hơn một năm, Web 2.0 tại Việt Nam đã phát triển từ chỗ gần như không có gì thành một nền tảng đầy sức sống. Cả các công ty nước ngoài và nội địa đều liên tục đưa ra các các dịch vụ web thế hệ mới nhắm tới người dùng Việt Nam. Bao quát hết các trang Web 2.0 Việt Nam không còn là một công việc dễ dàng.Ngay trong mảng mạng xã hội, các bạn cũng có thể thấy sự đa dạng của các loại hình và các đối tượng mà các trang web này nhắm tới. Trong khi Y!360, VietSpace, YoBanBe cung cấp việc tạo các trang cá nhân và blog theo kiểu truyền thống thì CyWorld là một xã hội ảo còn CyVee lại hướng tới người dùng chuyên nghiệp. Tất cả đang tạo nên một sân chơi mới, một trào lưu mới cho người dùng web tại Việt Nam.

Điều đáng tiếc nhất là chưa mạng nào cung cấp các API để phát triển các ứng dụng như Facebook và gần đây là Google, MySpace vừa làm. Hy vọng một các mạng XH của Việt Nam sẽ vươn lên tầm cao mới trong lần tổng kết sau.

(Lưu ý lần nữa, đây là các đánh giá riêng của cá nhân tôi, các bạn có thể đồng ý hoặc không. Xin lưu lại comment của bạn và xin cho tôi biết các mạng XH khác chưa được đánh giá trong bài này. Cảm ơn.)

Vietnam Idol: Ca nhạc 2.0?

Nhận định, Việt Nam, Web 2.0 Blog September 30th, 2007


Khi tôi viết những dòng này, cuộc thi “Vietnam Idol” chỉ còn một vài ngày nữa là kết thúc. Tôi đã tự hỏi: “Tại sao một chương trình ca nhạc lại có thể thành công ở rất nhiều quốc gia có nền văn hóa và trình độ phát triển khác nhau trong những năm gần đây?”. Cuối cùng tôi phát hiện ra rằng đó chính là tinh thần của Web 2.0 trong lĩnh vực ca nhạc.

Để trả lời cho câu hỏi trên trước hết tôi muốn thử tìm hiểu xem:

  • Đây có phải là một cuộc chơi công bằng để chọn ra người tài năng nhất trong hàng ngàn thí sinh?
  • Vai trò của ban giám khảo thế nào?
  • Cuộc chơi này có những vấn đề về mặt kỹ thuật tổ chức (như một số bình luận trên báo chí) hay không?
  • Và cuối cùng, bản chất của cuộc chơi này là gì?

Chúng ta đều biết đây là cuộc chơi dành cho những người không chuyên nghiệp, nếu bạn có một giọng hát hay (hay bạn tưởng là như vậy) thì bạn đều có thể tham gia tuyển chọn. Ở Việt Nam, đây không phải là một điều mới vì giải “Tiếng Hát Truyền Hình” cũng không yêu cầu bạn phải có chứng chỉ hay bằng cấp gì. Suy cho cùng, ngôi sao ca nhạc không nhất thiết phải học ở nhạc viện ra. Nhưng điều thú vị là cuộc chơi này gạt hẳn dân “chuyên nghiệp” ra ngoài và nó trở thành cuộc chơi của đại chúng, nó đảm bảo sự bình đẳng về mặt xuất phát điểm cho các thí sinh ở mức tương đối nào đó. Sẽ không có chuyện một ca sĩ học nhạc viện ra và đã có chút ít tên tuổi cạnh tranh với các thí sinh amateur.

Trong cuộc thi này, vai trò của ban giám khảo càng về cuối càng mờ nhạt. Lần đầu tiên người xem được trao toàn quyền quyết định chọn ai là thần tượng của mình và một khi quyền lực nằm ở phía những người thưởng thức thì kết quả có thể hoàn toàn khác với những dự đoán của các chuyên gia. Tôi cảm nhận thấy càng ngày ban giám khảo càng cảm thấy khó dung hòa giữa thị hiếu của khán giả với những nhận định chủ quan của mình. Họ cảm thấy “đám đông” ở dưới kia vừa đúng, vừa không đúng và cuối cùng là cảm giác bất lực khi phải đưa ra những nhận xét chẳng “ăn nhập” gì với ý kiến “đám đông” đó. Có lẽ đó là sức ép mà ban đầu ban giám khảo đã không thể hình dung ra (cá nhân tôi tôn trọng ban giám khảo đặc biệt là nhạc sĩ Tuấn Khanh, anh mới “xuất bản” một album mà mọi người có thể nghe miễn phí trên Internet — với những ca khúc chứa đầy trăn trở về cuộc sống và thời cuộc: Bụi Đường Ca).

Trong những vòng cuối của Vietnam Idol, một vấn đề kỹ thuật nổi lên là liệu việc một người có thể nhắn nhiều tin nhắn cho “thần tượng” cùa mình có ảnh hưởng tới kết quả bầu chọn? Về mặt thống kê, nếu chỉ có rất ít người bình chọn thì có khả năng một nhóm người thân của ai đó sẽ gởi nhiều tin nhắn và làm lệch lạc kết quả, nhưng khi số lượng tin nhắn lên tới hàng triệu thì những cố gắng kiểu như thế không có hiệu quả. Hơn nữa, khi một nhóm người gởi nhiều tin nhắn bầu cho thí sinh này thì cũng có nhóm khác gởi nhiều tin bầu chọn thí sinh khác và kết quả sẽ được cân bằng. Ngược lại thì hệ thống tổ chức của các cuộc thi Idol sẽ sụp đổ và nó đã không có mặt ở Việt Nam hôm nay.

Vậy có phải những người vào vòng cuối cùng là những người hát hay hơn những người còn lại? KHÔNG HẰN VẬY. Nhiều người (trong đó có ban giám khảo) không cho rằng nhưng người cuối cùng là xuất sắc nhất và họ ngạc nhiên khi những người hát hay nhất lại bị loại. Thậm chí một số nhạc sĩ nổi tiếng còn cho rằng khán giả Việt Nam là “kém thị hiếu”, không đủ trình độ thưởng thức âm nhạc… Tôi thực sự buồn khi đọc những nhận xét kiểu như vậy, nó thể hiện sự tự ti dân tộc và trên hết là coi thường những người thưởng thức mà nhẽ ra phải là mục tiêu của âm nhạc. Không rõ trình độ thưởng thức của khán giả các nước có tổ chức Idol khác như Indonesia, Ấn Độ… có hơn Việt Nam hay không nhưng chắc mỗi người chúng ta đều không muốn bị mặc định cho là kém hiểu biết.

Nhưng rất có thể khi đưa ra những nhận xét như vậy họ chưa hiểu bản chất thực sự của cuộc chơi này. Bề ngoài nó có vẻ như cuộc tuyển chọn giọng hát hay như bao cuộc thi khác, nhưng thực chất đây là cuộc thi giành cảm tình của khán giả. Thử nhìn Ngọc Ánh, anh ta không phải là người hát hay nhất (ban giám khảo ít khi thực sự đánh giá cao Ngọc Ánh), anh cũng không cao to đẹp trai và cũng không phải là người miền Nam. Cứ theo logic thông thường có thể anh ta đã bị loại từ mấy vòng đầu và thực tế là Ngọc Anh luôn có nguy cơ bị loại ở các vòng đầu. Nhưng càng ngày vị trí của Ngọc Ánh càng vững chắc và anh thẳng tiến tới vòng cuối cùng trong sự mến mộ của các fan thuộc nhiều thành phần khác nhau. Điểm khác biệt lớn nhất của Ngọc Ánh với các thí sinh còn lại chính là sự bất lợi của anh. Anh (vô tình) xây dựng được cho mình hình tượng của một chàng trai tỉnh lẻ — mộc mạc, chân chất — đang khát khao tìm kiếm cơ hội trong một thành phố lớn. Khi ban giám khảo nói rằng Ánh là người “cô đơn” trong cuộc thi này (lời của nhạc sĩ Tuấn Khanh) thì phản ứng tự nhiên của khán giả là muốn đồng hành, nâng đỡ anh.

Vì thế, tôi cho rằng nếu ai trở thành Idol thì đó sẽ là “thần tượng” đúng nghĩa, đơn giản do đây là người giành được cảm tình nhiều nhất của khán giả. Lý lẽ dẫn tới thành công của cuộc thi này như vậy: khán giả là người luôn luôn đúng. Ai sẽ là người bỏ tiền xem biểu diễn, ai sẽ là người mua đĩa nhạc? Nếu người hát hay nhất theo một khuôn mẫu luôn trở thành sao thì nhiều ngôi sao ca nhạc hiện nay có lẽ giờ này đang trình diễn phục vụ một đám cưới náo đó. Không, khán giả có những lý lẽ riêng của họ và tất nhiên họ đúng!

Tổng kết lại, có thể thấy cuộc thi Vietnam Idol (và các cuộc thi Idol nói chung) có 3 điểm dẫn tới thành công:

  1. Tính phổ thông: Thí sinh tham gia cuộc thi này là không chuyên và được tuyển chọn từ nhiều địa phương khác nhau, tạo điều kiện cho tất cả các thành phần tham gia. Có thể có nhiều “pha” biểu diễn thật tức cười nhưng đây chính là điểm mà các cuộc thi khác không thể có được.
  2. Tính tương tác: Việc loại từng thí sinh trực tiếp thông qua hệ thống nhắn tin làm cho cuộc thi ngày càng gay cấn, hấp dẫn. Nó đem lại cảm xúc trái ngược cho mỗi người nhưng quan trọng là mọi người đều cảm thấy mình đang tham gia vào chứ không chỉ chứng kiến thụ động như các cuộc thi khác.
  3. Tính cộng đồng: Thí sinh được khán giả bầu chọn trực tiếp; đây là một điều tuyệt vời và chỉ có trong thời đại viễn thông di động phổ biến như hiện nay mới thực hiện đựơc.

Đến đây, tôi đã giật mình khi nhận thấy những đặc thù của Vietnam Idol thật là giống với Web 2.0, đó là thứ ca nhạc hướng tới khán giả, do khán giả quyết định mình muốn gì, không phải hướng tới các chuyên gia về âm học hay thanh nhạc. Vây nên tôi có thể mạo muội gọi cuộc thi này là “Ca Nhạc 2.0″ được chăng?

Web 2.0 Expo 2007

Tổng hợp, Web 2.0 Blog April 24th, 2007


Web 2.0 Expo 2007 vừa được tổ chức tại San Francisco từ ngày 15 tới 18-4-2007. Sau đây là một vài nét về sự kiện này.



Mục tiêu của Expo 2007

Khác với những đại hội khác, kỳ Expo này tập chung vào việc giải thích các khái niệm về Web 2.0 cho các nhà phát triển và thiết kế. Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tham gia cuộc triển lãm này để tìm hiểu thêm về Web 2.0 và việc áp dụng các công nghệ này vào thực tế.

Thành phần đa dạng tham dự cuộc triển lãm này làm cho không khí luôn cởi mở và sôi động. Triển lãm cũng có nhiều gian hàng của cả các cty mới (startups) và các công ty lâu đời, đặc biệt khi có sự tham dự của IBM với các nhân viên mặc áo thung đỏ (khác với màu xanh truyền thống).

Nhìn chung các cuộc thảo luận hướng nhiều về khía cạnh kỹ thuật hơn các kỳ đại hội khác. Tôi sẽ không đi sâu vào chi tiết các sự kiện, các bạn có thể xem thêm ở các bài viết dưới đây:

Web 2.0 Expo Wrapup
Wrangling Web 2.0 at S.F. expo
Live Blogging the Expo Day 2 Keynote (Part 1)Part 2

Tổng kết từ triển lãm

Tổng kết sau Web 2.0 Expo 2007, Graeme Thickins có một số nhận xét và đánh giá xu hướng phát triển/đầu tư của thị trường:

1. Web 2.0 đang tiến ra ngoài phạm vi thị trường tiêu dùng: Có nhiều dấu hiệu cho thấy công nghệ web 2.0 đã được áp dụng trong phạm vi doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp lớn đã tham gia triển lãm, hội thảo tại kỳ đại hội này, đây là xu hướng rất tích cực.

2. Mô hình đầu tư mạo hiểm (VC) cho CNTT/phần mềm đang thay đổi: Trước thực tế là các doanh nghiệp web 2.0 không cần quá nhiều vốn đầu tư, mô hình VC cũ đang trở nên lạc hậu. Kiểu đầu tư ngay từ giai đoạn đầu đang có vẻ thắng thế và việc đầu tư ồ ạt tỏ ra không thích hợp nữa. Một nhà đầu tư mạo hiểm nói rằng: ngày nay chỉ cần từ 250.000 tới 750.000 USD đầu tư là có thể cho thấy kết quả. Điều này làm cho các nhà đầu tư “thiên thần” (angel investors) rất phấn khích.

3. Đây không phải là thị trường: Một trong những câu nói hay nhất trong cuộc triển lãm này là của Josh Kopelman, quĩ First Round Capital: “Những đọc giả của TechCrunch (blog nổi tiếng giới thiệu các cty web 2.0) và các nhóm người ở đây không phải là thị trường. Thành công trong những nhóm nguời này có thể là cần thiết nhưng chưa đủ. Thế giới bên ngoài không hiểu gì về những cái ở đây (về web 2.0)”.

4. Cần có marketing: Jeff Clavier của quĩ SoftTech cho rằng: “Chúng ta cần bỏ tiền vào công tác tiếp thị”. Rất nhiều cuộc thảo luận trong triển lãm này xoanh quanh chủ đề marketing.

5. Vai trò của SEO lại nổi lên: Đây là hệ quả của việc tăng cường marketing cho web 2.0. Có nhiều thách thức thú vị cho SEO như sử dụng widget cho công tác quảng bá…

6. Đừng vội kiêu ngạo: Đừng nghĩ bạn có thể làm chủ được Internet. Hiện có 1 tỷ người dùng Internet trên PC nhưng lại có hơn 2 tỷ ngưởi dùng ĐTDĐ — web còn xa mới bao phủ toàn cầu.

7. Ứng dụng offline sẽ là “next-big-thing”: các demo của Appllo và Etelos cho thấy tiềm năng lớn của các ứng dụng web offline dù mới chỉ ở giai đoạn Alpha.

8. Lập trình viên không phải là những người có khả năng trình bày tốt: Nhiều cuộc trình diễn ở triển lãm này không tốt do thiếu kỹ năng trình bày. Nên để cho những người có kỹ năng hơn làm việc này hơn là các lập trình viên.

Kết luận

Điều có thể thấy từ cuộc triển lãm này là hoạt động tích cực của các doanh nghiệp. Web 2.0 đã bước qua giai đoạn tương đối khép kín và người ta bắt đầu nhận thấy nhu cầu phải đưa ứng dụng của mình tới nhiều người dùng bình thường hơn. Các nhà đầu tư cũng tỏ ra tự tin hơn với web 2.0 và có thể đây sẽ là bắt đầu của một làn sóng đầu tư mới khi có nhiều quĩ VC tìm kiếm cơ hội trong Web 2.0 Expo lần này.

Web 2.0: Hiện Tượng và Bản Chất

Căn bản, Khái Niệm, Web 2.0 Blog March 20th, 2007


Hôm nay, web 2.0 không còn là một khái niệm khó hiểu do một nhóm những người “cấp tiến” nắm giữ những bí quyết nữa. Nó đã trở thành câu chuyện hàng ngày trên các mặt báo và cả trong… quán café. Cách đây vài hôm tôi có nghe được câu chuyện của hai người trong bữa ăn trưa thế này:

A: …thế còn web 2.0 là thế nào nhỉ, nghe nói hay lắm phải không?

B: Ah, web 2.0 là do bây giờ đường truyền mạnh nên đưa mọi thứ lên web…

Qua câu chuyện có thể thấy người ta bắt đầu không thỏa mãn với cái web hiện tại. Không có gì ngạc nhiên cả vì ngày nay hầu như không người sử dụng web nào không “đụng” tới một ứng dụng Web 2.0 và một khi đã dùng rồi thì họ sẽ tự hỏi sao các trang web còn lại không làm được như vậy. Ở phía các doanh nghiệp, một trong số các khách hàng lớn nhất của công ty tôi cũng đang có một “big plan” chuyển toàn bộ ứng dụng nghiệp vụ của họ lên chuẩn web 2.0…

Tôi cũng không nghĩ anh B giải thích sai về Web 2.0 nhưng dường như mỗi người đều cố diễn giải về web 2.0 theo cách nghĩ riêng của mình. Ngay cả khi bạn đọc kỹ từng câu, từng chữ bài viết của Tim O’Reilly (và cả các bài khác trên blog này :) ) thì tôi cũng dám đoan chắc là bạn khó có thể hiểu web 2.0 thực sự là gì. Nó là mạng xã hội, là trí tuệ tập thể, là blog, là AJAX, mashup, tag hay là một giao diện bóng bảy?

Sai lầm lớn nhất của giới báo chí và những người cổ vũ cho web 2.0 là dùng hiện tượng giải thích cho nguyên nhân. Tất cả những cái như mạng xã hội, blog… chỉ là kết quả của một quá trình thay đổi về tư duy đã diễn ra trong những năm gần đây. Web 2.0 là có thực nhưng nó không phải là cái mà bạn có thể định nghĩa thông qua một vài ví dụ hay vài mỹ từ. Web 2.0 cũng không hẳn là cái mà bạn chỉ biết được khi bạn thấy nó. Thật không may, những ngôn từ hoa mỹ, những khẩu hiệu giật gân thường phủ bóng lên những điều quan trọng nhất. Sàng lọc lại, đây là những cái mà chúng ta nên hiểu về bản chất của Web 2.0:

  • Web 2.0 là tự do về dữ liệu: Có rất nhiều bạn nói rằng họ không hiểu rõ về web API, RSS, mashup, tag… Nói chung đó là những công cụ giúp bạn lấy dữ liệu từ những nguồn khác nhau trên web mà không cần phải vào trang web đó. Dùng API của Flickr bạn có thể xem các hình ảnh trên trang web này mà không cần phải vào Flickr. Dữ liệu ở trên web luôn có rất nhiều và trước kia người ta không thể lấy về dùng một cách tự động và tiện lợi. Web 2.0 đã thỏa mãn giấc mơ đó.

  • Web 2.0 là băng thông rộng: Web 2.0 tận dụng việc phổ biến của đường truyền băng thông rộng như ADSL, cáp quang… Bạn thử tưởng tượng việc xem một đoạn video trên YouTube với kết nối dial-up sẽ thế nào? Nếu không có băng thông rộng thì hầu hết các ứng dụng Web 2.0 sẽ chỉ có ý nghĩa trong một trường thí nghiệm.

  • Web 2.0 là sự liên kết: Web 2.0 là sự liên kết giữa người với người (MySpace), giữa các từ khóa, khái niệm với nhau (Wikipedia), giữa các website (Mashup)… Bản chất, Web 2.0 thay đổi cách liên kết từ quan hệ một-nhiều (one-to-many, tức là từ một website tới những người truy cập) sang quan hệ nhiều-nhiều (many-to-many) bằng các mối liên kết mới.

  • Web 2.0 đặt con người lên trên công nghệ: Tuần báo Time đã bầu “person of the year” năm 2006 là YOU. Tại sao? Bạn, con người, chính là trung tâm của web 2.0, và theo báo Time, cuộc cách mạng Web 2.0 là tâm điểm của năm 2006! Đây cũng chính là đặc điểm dễ thấy nhất của Web 2.0, nó hiểu người dùng cần gì trên Web và thỏa mãn họ.

  • Web 2.0 cho phép người dùng “sử dụng” dữ liệu chứ không chỉ “lấy” dữ liệu: Công đầu của công nghệ AJAX không phải là làm cho các ứng dụng web dùng giống như các ứng dụng desktop mà giúp người dùng dễ dàng thay đổi, thêm, bớt dữ liệu tùy ý trên web thay vì chỉ có thể “đọc” chúng như những bản tin.

  • Web 2.0 làm cho người ta không còn nghĩ Web chỉ là một dạng báo điện tử hay một kiểu TV khác: Hmm, đã có lúc người ta coi Web là một dạng truyền thông như báo chí hay TV vì tính một chiều của nó. Nhưng web 2.0 cho thấy giờ đây có những cái bạn chỉ có thể làm thông qua Web chứ không thể qua báo chí hay TV. Tính tương tác mà Web 2.0 đem lại làm cho Web vượt qua khái niệm một trang báo điện tử: nó sẽ trở thành một phương tiện giao tiếp hơn là một công cụ tuyên truyền.

Cuối cùng, nếu bạn đã hiểu bản chất web 2.0 là gì thì điều quan trọng nhất khi làm một trang web 2.0 là hãy tưởng tượng ra cái gì bạn không thể làm được nếu không có WEB.

Kỷ nguyên của Microsoft đã kết thúc với Vista

Microsoft, Nhận định, Web 2.0 Blog February 1st, 2007


Sự xuất hiện lặng lẽ của Vista là dấu hiệu kết thúc của kỷ nguyên mang tên Microsoft.

Tôi vẫn nhớ năm 1995 ấy, khi tôi đang dùng Windows 3.11 hàng ngày cho công việc. Trên cái máy PC 386 với 4MB RAM, phần mềm chính viết bằng FoxPro vẫn chạy trên nền DOS, còn Word, Excel là cả một cuộc cách mạng so với VietRes hay Quatro. Nói chung tại thời điểm ấy bạn gần như không thể vừa gõ văn bản vừa cho in ấn vì Windows 3.1 không hỗ trợ đa nhiệm thực… Oh, cái ngày xa xưa ấy!

Năm 1995, Larry Page và Sergey Brin, hai đồng sáng lập của Google, vừa mới tốt nghiệp đại học còn hãng Apple đang phải cắt giảm hàng ngàn nhân sự và suýt bị mua lại.

Năm 1995, tôi có một ước mơ là được sở hữu một cái PC 486 với 8MB RAM để có thể cài Windows 95, được nhấp vào nút “Start” và để coi những điều kỳ diệu mà Bill Gates huyền thoại đã chỉ ra cho thế giới: một hệ điều hành đa nhiệm, thân thiện và cò những tính năng vượt qua tất cả những gì người ta đã hình dung.

Windows 95 Launch Event in Redmond

Phía bên kia đại dương, trước 2000 đại biểu “sừng sỏ” nhất của ngành công nghiệp máy tính, 500 nhà báo và 70.000 người theo dõi trực tiếp qua truyến hình vệ tinh, Bill Gates – đứng trước màn hình khổng lồ với là cờ Windows bay phấp phớp trong giai điệu không thể nào quên của bài “Start me up” – đã đưa thế giới vào kỷ nguyên của PC. Một kỷ nguyên mà mỗi cử động của Microsoft được cả thế giới rõi theo, mọi động thái của Microsoft đều làm các đối thủ run sợ. Khi Microsoft tiến vào bất kỳ lĩnh vực nào thì mọi người đều tự hỏi “có nên tiếp tục đi săn trên đất của nhà vua không?”

Sáu năm sau, 2001, Windows XP được giới thiệu, nó không là một sự kiện “vĩ đại” như Windows 95 nhưng cũng không có ai có thể nghi ngờ về sức mạnh của Microsoft: Windows được cài đặt trên hơn 90% máy tính bán ra, bộ Office là tiêu chuẩn cho mọi văn phòng.

Thời gian qua đi thật nhanh, sáu năm nữa đã lại qua, Microsoft đã mang tới cho chúng ta hệ điều hành thế hệ thứ tư của mình: Vista. Vẫn cùng một kiểu tiếp thị với các bài viết giới thiệu ồ ạt trên các tờ tạp chí như dạng PC World, nhưng “hệ điều hành bảo mật nhất” này chẳng còn là tâm điểm chú ý của thế giới nữa. Chẳng có hàng dài những người mua chờ từ đêm hôm trước, chẳng có hàng ngàn thính giả lắng nghe Bill phát biểu để định hình ngành công nghệ thông tin tương lai. Vista xuất hiện thật lặng lẽ so với các anh em của mình.

Nó nói lên rằng ảnh hưởng của Microsoft lên ngành CNTT đã yếu đi rất nhiều cùng với sự lớn mạnh của Google và các công ty web 2.0 trên Internet, cùng với Apple trên các thiết bị nhỏ như iPod, iPhone… Nó báo hiệu sự kết thúc của kỷ nguyên Microsoft, kỷ nguyên của các phần mềm đóng gói khổng lồ được cài trên máy của khách hàng. Chính Microsoft cũng thừa nhận Vista sẽ là hệ điều hành “all-in-one” cuối cùng của hãng, sau đó họ sẽ chỉ phát triển các HĐH chuyên biệt cho các mục đích khác nhau.

Kẻ thù lớn nhất của bạn là chính bạn – câu nói đó thật đúng với Microsoft. Trên thế thượng phong gần như tuyệt đối, Microsoft đã quá tập trung vào Windows và Office, hai con bò sữa về lợi nhuận, mà không có một tầm nhìn xa hơn về một thế giới cộng tác trên Internet. Họ đã biến mình thành một công ty bị chán ghét nhất vì khả năng triệt tiêu không thương tiếc các đối thủ và thủ tiêu sự sáng tạo trong CNTT cả một thời gian dài. Làn sóng Web 2.0 chỉ là một trong những câu trả lời cho thấy Microsoft không thể kiểm soát được mọi thứ. Kể từ khi tiêu diệt được Netscape, Microsoft đã gần như bỏ qua Internet vì nó không mang lại cho họ lợi nhuận và web đã phát triển mà không cần đến Microsoft. Cảm ơn Bill, nếu không có lẽ trên mỗi trang web hôm nay đã có một thanh toolbar office hay nút “Start” rồi.

Cuối cùng có lẽ giấc mơ của Bill Gates về các phần mềm mà bất kỳ ai cũng có thể sử dụng và ở bất cứ đâu sẽ thành hiện thực, nhưng trớ trêu thay nó sẽ không ở trên Windows mà ở trên Web!