Web 2.0 Vietnam Logo

Web 2.0 Việt Nam – 10 Sự Kiện Nổi Bật Năm 2007

Việt Nam, Đánh giá December 30th, 2007


Tổng kết 10 sự kiện nổi bật của web 2.0 trong năm 2007 tại Việt Nam.

1. Blogger trở thành thế lực truyền thông mới

Về bề nổi các sự kiện liên quan tới Web trong năm 2007 đều ít nhiều liên quan tới các blogger. Có thể kể tới việc blogger cogaidolong bị kiện và vài tờ báo mở chiến dịch bôi bẩn hình ành các blogger. Kết quả là số lượng người đọc blog cogaidolong tăng vọt và người ta tìm tới các blog như kênh thông tin phản biện. Các ví dụ về báo chí đối đầu với các blogger tại các nước khác bao giờ cũng cùng một kịch bản là số lượng người đọc báo truyền thống giảm đi và đọc blog tăng lên, ở Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.

Tiếp đến là vụ scandal “Nhật Ký Vàng Anh”: video sex của nhân vật chính Hoàng Thùy Linh lan truyền với tốc độ Internet và các blogger bước vào một cuộc tranh luận qui mô với vô số bài viết về đời tư, lối sống của một bộ phận thanh niên con ông cháu cha. Không có kênh thông tin nào làm tốt hơn việc này (mặc dù cá nhân tôi rất ít khi đọc các bài viết về đời tư người khác.)

Cuối cùng là cuộc phát động yêu nước khi “người bạn lớn” Trung Quốc thành lập TP Tam Sa trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của chúng ta. Đây là sự kiện có tác động sâu sắc nhất tới nhận thức của thanh niên về tình yêu tổ quốc và trách nhiệm của mỗi người trong việc chấn hưng đất nước để có thể đối đầu với các cường quốc đầy dã tâm.

Hơn một triệu blogger quả thực đã trở thành thế lực truyền thông mới tại Việt Nam.

2. Dịch vụ web 2.0 bùng nổ

Có thể nói năm 2006 là năm thai nghén và chuẩn bị cho sự bùng nổ các dịch vụ web 2.0 tại Việt Nam trong năm 2007. Nếu như năm 2006 chỉ có lác đác một vài website thể hiện ý tưởng 2.0 một cách sơ sài thì năm 2007 các trang web 2.0 đã có thể thách thức các trang web truyền thống cả về mặt nội dung lẫn sức thu hút. Chúng ta đã có những dịch vụ web có thể thay thế được YouTube, MySpace – Yahoo!360 hay LinkedIn như Clip.vn, YoBanBe, CyWorld, CyVee và nhiều dịch vụ web đặc thù khác phục vụ rất tốt cho nhu cầu chia sẻ thông tin, làm việc và giải trí của riêng người Việt. Sân chơi web 2.0 Việt Nam không những trở nên sôi động mà cũng rất cạnh tranh vì hầu như không có dịch vụ nào là “một mình một chợ”.

3. Yahoo đe dọa đóng cửa Yahoo!360

Sau khi thừa nhận sự thất bại của mạng xã hội 3600 của mình trước các Facebook, MySpace, Yahoo quyết định sẽ đóng cửa mạng này vào đầu năm 2008 và gây ra cú sốc với người dùng Việt Nam vốn phần lớn tập chung vào nền tảng của Yahoo. Cho đến giờ này Yahoo vẫn tỏ ra khá lúng túng về cách giải quyết “hậu quả” của việc đóng cửa này trong khi chưa có dịch vụ thay thế. Các mạng xã hội và dịch vụ blog của Việt Nam đang tranh thủ cơ hội để hút người dùng qua. Tuy nhiên, sự chuyển dịch này có thể sẽ làm cho nền tảng blog kém hấp dẫn hơn do bị phân mảnh và nhiều người sẽ không chọn các blog Việt Nam để tránh bị kiểm duyệt các phát biểu của mình.

4. Các mạng xã hội cạnh tranh quyết liệt

Năm 2007 chứng kiến sự ra đời của một loạt các mạng xã hội tại Việt Nam như YoBanBe, CyWorld, CyVee, FaceViet, TamTay, GuongMat, Blog Cafe… Các mạng này đang phải cạnh tranh gay gắt để thu hút đăng ký trong bối cảnh hầu hết người dùng mạng xã hội đầu tư thời gian vào Yahoo!360. Liệu năm 2008 có thể sẽ chứng kiến sự bứt phá của các mạng xã hội Việt Nam với sự tham gia của các đại gia như FPT, VC Corp?

5. Các quĩ đầu tư hướng vào web 2.0

Quĩ đầu tư mạo hiểm IDG — IDG Ventures — đã đặc biệt chú ý tới các dịch vụ web 2.0 thông qua việc đầu tư vào một loạt các công ty dot-com thế hệ mới như Vega (Clip.vn), VC Corp, Cyworld, CyVee, DiaDiem… Đây là một động lực lớn cho web 2.0 Việt Nam. Các quĩ đầu tư khác như DFJ VinaCapital, FPT Capital cũng bắt đầu để mắt tới các web 2.0 hứa hẹn một năm 2008 sôi động phía trước.

6. Internet Việt Nam bước vào năm thứ 10

Internet Việt Nam đã bước vào năm thứ 10 với sự phát triển nhanh chóng về lượng. Có thể thấy Internet đã len lỏi vào tất cả hang cùng ngõ hẻm và tới hầu hết các thành phần dân cư. Nhưng về mặt chất, người ta vẫn dùng Internet như phương tiện truyền thông hơn là phương tiện làm việc, giao tiếp. Dù vậy có thể hy vọng sự thay đổi về lượng sẽ nhanh chóng dẫn tới sự thay đổi về chất trong những năm sắp tới.

7. VC Corp tiến nhanh

Sau khi đưa ra dịch vụ tìm kiếm theo chủ đề (vertical search) BaamBoo, VC Corp đã tiếp tục đưa ra một loạt dịch vụ khác trên nhiều mảng thị trường khác nhau như RongBay, SanNhac… và sẽ tiếp tục đưa ra các dịch vụ web khác trong năm nay. Với tham vọng lớn, đội ngũ phát triển nhiều nhiệt huyết và được đâu tư tốt, VC Corp đang tiến rất nhanh trong Web 2.0 nhưng có lẽ là quá nhanh chăng?

8. VinaGame theo đuổi chiến lược Zing

VinaGame thoát ra khỏi lớp áo của một nhà cung cấp game online và buớc sâu vào địa hạt web với chiến lược Zing bao gồm Zing Chat, Zing PortalZing MP3. Đây có phải là sự chuyển hướng chiến lược của công ty sau khi có những thành công nhất định với mạng YoBanBe hay chỉ nhằm thay đổi hình ảnh với các nhà đầu tư trước vụ IPO sắp tới?

9. FPT 2.0

Người khổng lồ FPT có vẻ đã phần nào hiểu được tầm quan trọng của web 2.0 cả về nội dung lẫn tinh thần khi tuyên bố tiến vào lãnh địa này bằng chiến lược FPT 2.0: tái cấu trúc FPT Software và đầu tư vào web 2.0. Với một công ty chưa thực sự chứng tỏ được nhiều so với tầm cỡ của mình trong software nói chung và các dịch vụ web nói riêng thì đây quả là một chiến lược tham vọng. Tuy nhiên thành công trong web 2.0 phụ thuộc vào hai yếu tố là khả năng thay đổi và tốc độ tiếp cận vấn đề — câu hỏi vẫn là liệu FPT có đủ nhân tài và quyết tâm làm việc này hay nó sẽ chỉ là một buzzword?

10. Web 2.0 Việt Nam Blog chuyển qua domain riêng

Tất nhiên là tôi đang nói đùa :) , xin các bạn bổ xung các sự kiện khác mà theo các bạn là đáng chú ý nhất trong năm qua.

Happy New Year!

10 năm với Internet

Tổng hợp, Việt Nam November 30th, 2007


Chúng ta vừa kỷ niệm 10 năm ngày kết nối Internet và cùng với nó là sự thay đổi lớn lao trong xã hội Việt Nam. Đây là những hồi ức và suy nghĩ của tôi sau gần 10 năm trên Net.

Những ngày chập chững (1997 – 1998)

Không lâu sau khi Việt Nam kết nối Internet, tôi có dịp lần đầu tiên vào Net tại Đại học Bách Khoa TP.HCM. Đây là nơi duy nhất tôi có thể truy cập Internet với giá chỉ đúng bằng tiền mướn máy tính ở ngoài (khoàng 2000đ/h). Khi đó thậm chí tôi chưa biết tới Google — dịch vụ tìm kiếm thống trị là Yahoo bên cạnh đó là nhiều tên tuổi khác mà đến giờ này đã trở thành khá xa lạ với phần lớn các bạn như AltaVista, Lycos, WebCrawler… Đây là thời kỳ bắt đầu bùng nổ của các dot-com. Các dịch vụ web mọc lên như nấm tìm đủ mọi cách để lôi kéo khách hàng đăng ký vào web của mình như quảng cáo, dội bom thư… Nhân viên của các công ty Internet làm việc như điên với hy vọng công ty mình sẽ có ngày “lên sàn” (IPO) và sẽ trở thành triệu phú sau một đêm.

Điều bực mình nhất với tôi lúc ấy là hộp thư của Yahoo!Mail chỉ cho có 2 MB và nếu không truy cập vào đó trong 3 tháng nó sẽ thẳng tay xóa sổ tài khoản của bạn. Tôi ít nhất cũng mất vài tài khoản với những tên khá đẹp như hongquang@yahoo.com… Các dịch vụ mail khác cũng có những điều kiện ngặt nghèo không kém, cái rộng rãi nhất cũng chỉ cho bạn hộp thư 8 MB nhưng để đăng ký vào các dịch vụ này thì bạn sẽ phải là người rất kiên nhẫn. Triết lý của các công ty Internet thời đó là càng thu thập được nhiều thông tin của người dùng càng tốt (cái này chắc là lấy ý tưởng từ marketing của FMCG). Thế là mỗi lần đăng ký bất cứ một dịch vụ nào bạn cũng phải điền đủ thứ thông tin gia phả vào một (hay nhiều) biểu mẫu dài dằng dặc. Quả là cơn ác mộng của kỷ nguyên web 1.0!

netscape1_1.jpg

Trình duyệt Netscape Navigator là mặc định, còn rất ít người dùng Internet Explorer. Mạng chậm khủng khiếp, thường phải mất một vài phút để truy cập vào được một trang web nếu may mắn kết nối không bị đứt vô thời hạn. Nhưng niềm hạnh phúc được nhìn ra thế giới bù đắp cho tất cả mặc dù web lúc đó còn khá hỗn loạn, để tìm ra được đủ thông tin bạn thường cần những tool giúp sục sạo vào 10 search engine khác nhau củng lúc. Tôi vẫn nhớ mình đã làm bài luận về chính sách tiền tệ với tài liệu thu thập từ Internet (quá oai!) trong đó có bài viết của một cựu cục trưởng Cục dự trữ liên bang Mỹ. Một trong những vấn đề ông kinh nghiệm có đại ý là “Chính sách tiền tệ có ảnh hưởng tới nền kinh tế với tốc độ chậm nên phải có sự nhạy cảm để dự báo trước được các vấn đề như lạm phát. Còn khi nó đã xảy ra rồi mới điều chỉnh chính sách thì đã quá muộn.” Nhìn tình hình lạm phát, giá cả tăng vọt ở nước ta như hiện nay thì chẳng biết có ai trong những người làm chính sách tiền tệ của chúng ta đọc bài học đã có trên Net từ 10 năm trước này không?

Thời của Dial-up (1999 – 2002)

Những năm sau tôi đã có thể truy cập web ở nhà qua kết nối dial-up. Tuy nhiên, đó là một sự xa xỉ vì giá cước trên trời, muốn tiết kiệm tiền tôi thường phải thức đêm để được giảm giá hay miễn phí cước truy cập. Thú thực những năm 1999 – 2002 tôi không hứng thú với Internet lắm một phần vì sự sụp đổ của dot-com và phần khác vì đường truy cập quá chậm để có thể thực sự làm được gì có ích trên Net.

Đây cũng là thời kỳ mà Netscape bị Internet Explorer đánh bại bằng chiêu bài “miễn phí và tích hợp”. Windows 98/XP và bộ Office làm mưa làm gió với vị thế gần như tuyệt đối trên desktop. Các dot-com rơi rụng gần hết và bạn có thể tìm mọi thứ trên Net bằng Google.

Công việc chủ yếu khi nối mạng của tôi là để tìm và download các phần mềm. Quá bực mình với sự chậm chạp của dial-up tôi đã viết một bài về cách tối ưu hóa modem và tăng tốc download, lướt web đăng trên diễn dàn của VNN — bài viết này sau đó được đăng lại tại website của anh Le Hoan (và tại nhiều trang web khác), nó trở nên nổi tiếng đến mức cho đến gần đây tôi vẫn còn nhận được mail hỏi về cách tối ưu hoá modem :)

Trở lại với Net (2003 – 2007)

Năm 2003, trảo lưu chat chít bắt đầu nở rộ cùng với sự xuất hiện của băng thông rộng ADSL. Tôi cảm thấy rất hứng khởi và tò mò không hiểu công nghệ nào giúp việc truyền thông điệp qua các mạng chat nhanh với tốc độ gần thời gian thực đến thế. Lúc này Yahoo!Chat còn chưa cho phép gõ tiếng Việt (cả Unicode và các font nội địa) và tất nhiên phải viết message kiểu không dấu hay kiểu VIQR trông rất loằng ngoằng khó đọc.

Thế là, một lần nữa bức xúc quá, tôi ngồi xuống viết ứng dụng chat có tên OlaalO!Chat dành riêng cho người Việt Nam. OlaalO!Chat dùng giao thức Jabber (giao thức này hiện đang được Google dùng trong GTalk) và viết trên .Net. Nó có khá nhiều tính năng vượt trội so với Yahoo!Chat lúc ấy, đặc biệt nó cho phép bạn gởi thông điệp bằng bất kỳ font chữ nào bạn có (các bạn có thể xem bài giới thiệu trên Echip và trên trang web của OlaalO!Chat). Nhưng OlaalO!Chat không cất cánh như tôi mong muốn (mặc dù đã thu hút được vài ngàn đăng ký) do hạn chế cả về hạ tầng lẫn marketing nên không thể tạo ra network effect; ngoài ra Yahoo!Chat đã trở nên quá lớn để bị thay thế. Cuối cùng câu hỏi đặt ra với một mạng chat là “Bạn đăng ký vào một mạng chat để làm gì khi mà tất cả bạn bè mình ở một mạng khác?” Đây cũng vẫn là câu hỏi dành cho Zing Chat hôm nay.

mainwin_fuctions_vi.png

chat_win_vi.png

Năm 2004, việc làm OlaalO!Chat bất ngờ mang lại cho tôi một sự chuyển hướng khác: từ bỏ làm kinh doanh, chuyển qua làm IT. Cuối cùng tôi muốn làm cái gì mình thực sự thích thú và tôi đã không phải hối hận vì quyết định này.

Năm 2005, tôi bắt đầu biết tới web 2.0 và thường xuyên vào TechCrunch để xem ứng dụng web nào sẽ là “the next big thing”.

Năm 2006, lấy cảm hứng từ bài viết của javaeater trên JavaVietnam.org, blog “Web 2.0 – Vietnam” ra đời.

Năm 2007, nhiều dự định, tính toán… nhưng chắc chắn tôi sẽ tiếp tục đi cùng với web 2.0.

Tổng kết

Kể từ khi ngắm nhìn bánh lái của thuyền trưởng Netscape Navigator với một cảm giác thật “vĩ đại” vì mình đã được vào Internet đến khi hòa mình vào cuộc cách mạng Web 2.0 là một chặng đường dài với nhiều thay đổi trong cuộc đời. Cuối cùng tôi lại trở về với Internet và hy vọng sẽ làm được gì đó trên Net và cho Net trong 10 năm tiếp theo. Không rõ đây là định mệnh hay duyện nợ nhưng tôi muốn nói lời cảm ơn với Internet và những người đã đưa Internet vào Việt Nam.

Vài dòng cảm xúc chia sẻ cùng các bạn!

Lập Trình Viên – Bạn Sẽ Bị Đào Thải Ngày Mai?

Tổng hợp, Việt Nam, Đánh giá October 18th, 2007


Thế giới là một cuộc chọn lọc và đào thải không ngừng, nhưng thế giới IT còn khắc nghiệt hơn. Bạn sẽ là người bị đào thải kế tiếp?

1. Cái chết của mô hình Waterfall

Năm 1970, mô hình nổi tiếng và được áp dụng trong qui trình phát triển phần mềm tại phần lớn các công ty hiện nay ra đời: mô hình thác nuớc (waterfall model). Mô hình này là kết quả của sự kết hợp các mô hình sản xuất từ các ngành kỹ thuật khác áp dụng cho công nghệ phần mềm. Nó định nghĩa ra chuỗi qui trình phát triển theo thứ tự từ trên xuống bao gồm: lấy yêu cầu khách hàng, làm thiết kế, phát triển, kiểm định và cuối cùng sẽ bàn giao cho người dùng. Bạn sẽ thấy mô hình này giống hệt với qui trình xây một căn nhà: kiến trúc sư tìm hiểu yêu cầu của chủ nhà, thiết kế căn nhà, đưa cho đội ngũ thi công thực hiện, kiểm tra chất lượng và cuối cùng trao chìa khóa cho người sở hữu.
Năm năm sau, Frederick Brooks phát hiện ra lỗ hổng lớn đầu tiên của mô hình này trong cuốn sách kinh điển về quản trị dự án: The Mythical Man-Month (Bí mật về tháng nhân công). Chắc các bạn làm phần mềm đều biết khái niệm man-month (hay man-day) là thước đo căn bản để tính giá cho việc phát triển phần mềm: đó là công lao động trong một tháng (hay một ngày) của một lập trình viên. Phát hiện nổi tiếng nhất của Brooks là “trong phát triển phần mềm không phải cứ thêm nhân công thì dự án sẽ nhanh hơn theo cùng cấp số“. Vấn đề là do sự mất cân đối trong giao tiếp khi số lượng người tham gia tăng lên.

Nhiều năm qua đi, người ta ngày cảng học hỏi được nhiều hơn về cách tốt nhất để làm một phần mềm và cũng bắt đầu nhận thức được rằng mô hình thác nước là quá cứng nhắc và thiếu thực tế. Không giống như việc bạn xây một căn nhà, ngay khi thiết kế, người ta đã dự kiến được 99% hình thù và chi tiết căn nhà sẽ như thế nào. Một dự án phần mềm hiếm khi được hình dung một cách chi tiết và đúng theo yêu cầu công việc. Chỉ khi đưa vào thử nghiệm trong môi trường thực các vấn đề mới bắt đầu phát sinh và việc thay đổi yêu cầu diễn ra thường xuyên.

Những người “ngoại đạo” thường nghĩ rằng vì phần mềm là “mềm” nên có thể dễ dàng thay đổi chỉnh sửa tùy hứng. Nhưng thực ra phầm mềm cũng giống như bất kỳ một cơ cấu kỹ thuật nào khác (như máy móc cơ khí chẳng hạn), nó cũng có thiết kế và cấu trúc (mà thường lại còn phức tạp hơn các máy móc cơ khí rất nhiều).

Khi yêu cầu công việc thay đổi, việc thay đổi trong phần mềm là tất yếu và trong thế kỷ 21 này các thay đổi lại càng diễn ra thường xuyên và nhanh chóng. Với mô hình thác, việc theo kịp các thay đổi là không thể thực hiện vì vòng qui trình của nó quá dài. Nó giống như việc cứ mỗi lần có bất kỳ thay đổi nào là bạn phải gần như phải phá căn nhà đi và xây lại từ đầu. Bạn có thể hình dung ra được sự tốn kém và bất tiện sẽ lớn như thế nào.

Tóm lại, hai vấn đề lớn nhất của mô hình thác nước là:

  1. Mô hình này quá tự tin với giả định rằng chúng ta luôn có thể làm được một hệ thống hoàn hảo ngày lần đầu.

  2. Phầm mềm ngày càng khác với các cơ cấu kỹ thuật cứng nhắc mà giống như các cơ thể sống – nó phải tiến hóa để thích hợp với môi trường. Đây chính là tiền đề cho một phương thức phát triển mới chiếm lĩnh ưu thế trong những năm gần đây: phương thức phát triển linh hoạt (Agile Development Methods).

2. Phát triển linh hoạt – Phần mềm tiến hoá

Phương thức phát triển phần mềm linh hoạt bắt đầu xuất hiện vào đầu những năm 90 với mục tiêu là phần mềm phải có khả năng biến đổi, phát triển và tiến hóa theo thời gian mà không cần phải làm lại từ đầu. Phương thức này tập chung vào tính đơn giản: tạo ra một phần mềm thật đơn giản đáp ứng đúng yêu cầu của khách hàng hôm nay và sẵn sàng cho những thay đổi vào ngày mai.

Phương thức phát triển này dựa trên hai kỹ thuật đáng lưu ý nhất:

  1. Refactoring: Giống như vệc bạn trang trí lại căn nhà mà không cần phải cơi nới, xây thêm hay xây lại, “refactoring” (xin lỗi, tôi chưa tìm được từ tiếng Việt nào thích hợp để dịch) cho phép chúng ta chuyển đổi mã lệnh để làm cho ứng dụng tốt hơn, đẹp hơn mà không phá hỏng nó (các bạn có thể tìm hiểu thêm về kỹ thuật này trong cuốn Refactoring: Improving the Design of Existing Code).
  2. Developer Testing: Phần mềm do chính các lập trình viên được kiểm định thay vì do các nhóm tester độc lập làm. Công cụ là “unit test”, cho phép từng phần nhỏ của phần mềm được kiểm định ngay trong quá trình phát triển trước khi lắp ghép vào ứng dụng. (xin xem thêm cuốn Test Driven Development: By Example)

Một trong những yếu tố khác khiến cho phương thức phát triển linh hoạt có thể cất cánh là sự lớn mạnh của các ngôn ngữ kịch bản (scripting language) như PHP, Python và gần đây là “viên hồng ngọc” Ruby. Tính linh hoạt của các ngôn ngữ này khiến cho việc thay đổi phần mềm dễ dàng hơn nhiều so với các ngôn ngữ tiền bối. Thêm vào đó là việc cộng đồng mã nguồn mở đang cung cấp vô số các thư viện dựng sẵn, đáp ứng cho việc phát triển nhanh, triển khai nhanh, thường xuyên đưa ra các cập nhật mới (release soon, release often) theo đúng tinh thần của phương thức phát triển linh hoạt. Phần mềm ngày nay không phải được nâng cấp hàng năm mà là hàng tuần, thậm chí hàng ngày.

3. Tương lai phát triển phần mềm: Chỉ cần một vài “nghệ nhân”

Digg, del.icio.us… các “phần mềm” trị giá hàng chục triệu, hàng trăm triệu USD chỉ do một hai người thực hiện. Facebook, mạng xã hội trị giá nhiều tỷ USD, cũng chỉ do một nhóm nhỏ làm ra.

Bí quyết phát triển các phần mềm có giá trị nhất ngày nay là chỉ cần một vài người có kỹ năng, nhiều nhiệt huyết. Với vài cá nhân xuất sắc trang bị các ngôn ngữ lập trình hiện đại và phương thức làm việc mới, một nhóm nhỏ có thể làm ra những sản phẩm tốt hơn cả một “đạo quân” lập trình viên trước kia.

Tổng kết lại, có thể thấy những thay đổi sẽ diễn ra trong các năm tới đây:

  • Những kỹ sư phần mềm có trình độ cao, có nhiệt huyết và tham vọng sẽ là những cỗ máy làm ra tiền.
  • Những lập trình viên không có kỹ năng đặc biệt có lẽ nên tìm việc làm ở lĩnh vực khác.
  • Những thay đổi mà chúng ta đang thấy ở thị trường phần mềm đại chúng sẽ diễn ra ở các công ty lớn.
  • Đưa phần mềm cho nước ngoài gia công (outsourcing) sẽ ngày càng ít tính kinh tế hơn.
  • Khoa học máy tính vẫn là lĩnh vực cạnh tranh và đòi hỏi cao.

4. Tương lai của các LTV Việt Nam

Nhìn các xu hướng đang diễn ra trên thế giới, có thể thấy rằng các dự án cần hàng trăm người sẽ ngày càng ít đi. Theo tính toán của Mỹ, chi phí outsourcing đang gia tăng (từ 1/10 lên 1/3 so với giá thành sản xuất trong nước) làm cho việc đưa phần mềm ra nước ngoài gia công ngày càng kém hấp dẫn. Ngoài ra, do khó khăn về giao tiếp và chệnh lệch về trình độ, chất lượng các dự án này cũng không được như mong muốn và rất khó bắt kịp các thay đổi của khác hàng.

Các LTV luôn có xu hướng muốn gia nhập các công ty lớn, tham gia vào các dự án lớn. Nhưng có thể đấy sẽ cách tiếp cận sai lầm vì:

  • Tương lai của các công ty làm xuất khẩu phần mềm dạng này đang ngày càng bấp bênh.
  • Bản thân các LTV thường không cải thiện được trình độ vì các công việc được giao ít cần kỹ năng cao hay tính sáng tạo.

Tất nhiên, nhìn thẳng vào thực tế, sự thay đổi sẽ không diễn ra ngay trong nay mai — mô hình thác nước và các biến thể của nó vẫn sẽ được dùng, người ta sẽ vẫn outsourcing. Nhưng mọi thứ sẽ ngày càng khó khăn hơn, đòi hỏi cao hơn và chỉ khi bạn thực sự chuẩn bị tốt cho sự thay đổi thì mới tránh được việc bị đào thải.

Đáng lo ngại nhất là các LTV Việt Nam còn xa mới theo kịp các đồng nghiệp ở các nước như Ấn Độ hay Ireland cả về mặt tổ chức lẫn kỹ năng. Chúng ta quá chú trọng tới các công nghệ độc quyền của Microsoft, Oracle hay IBM và hiểu biết về mã nguồn mở là một lỗ hổng lớn. Không may, có thể ngày mai công ty sẽ nói lời chia tay với bạn chỉ vì bạn không có kinh nghiệm gì về Python hay cơ sở dữ liệu MySQL. Như tựa một bộ phim “Đó là một tương lai không quá xa” (Not too far future), xin hãy suy nghĩ lại con đường của mình.

(theo ReadWriteWeb)

Vietnam Idol: Ca nhạc 2.0?

Nhận định, Việt Nam, Web 2.0 Blog September 30th, 2007


Khi tôi viết những dòng này, cuộc thi “Vietnam Idol” chỉ còn một vài ngày nữa là kết thúc. Tôi đã tự hỏi: “Tại sao một chương trình ca nhạc lại có thể thành công ở rất nhiều quốc gia có nền văn hóa và trình độ phát triển khác nhau trong những năm gần đây?”. Cuối cùng tôi phát hiện ra rằng đó chính là tinh thần của Web 2.0 trong lĩnh vực ca nhạc.

Để trả lời cho câu hỏi trên trước hết tôi muốn thử tìm hiểu xem:

  • Đây có phải là một cuộc chơi công bằng để chọn ra người tài năng nhất trong hàng ngàn thí sinh?
  • Vai trò của ban giám khảo thế nào?
  • Cuộc chơi này có những vấn đề về mặt kỹ thuật tổ chức (như một số bình luận trên báo chí) hay không?
  • Và cuối cùng, bản chất của cuộc chơi này là gì?

Chúng ta đều biết đây là cuộc chơi dành cho những người không chuyên nghiệp, nếu bạn có một giọng hát hay (hay bạn tưởng là như vậy) thì bạn đều có thể tham gia tuyển chọn. Ở Việt Nam, đây không phải là một điều mới vì giải “Tiếng Hát Truyền Hình” cũng không yêu cầu bạn phải có chứng chỉ hay bằng cấp gì. Suy cho cùng, ngôi sao ca nhạc không nhất thiết phải học ở nhạc viện ra. Nhưng điều thú vị là cuộc chơi này gạt hẳn dân “chuyên nghiệp” ra ngoài và nó trở thành cuộc chơi của đại chúng, nó đảm bảo sự bình đẳng về mặt xuất phát điểm cho các thí sinh ở mức tương đối nào đó. Sẽ không có chuyện một ca sĩ học nhạc viện ra và đã có chút ít tên tuổi cạnh tranh với các thí sinh amateur.

Trong cuộc thi này, vai trò của ban giám khảo càng về cuối càng mờ nhạt. Lần đầu tiên người xem được trao toàn quyền quyết định chọn ai là thần tượng của mình và một khi quyền lực nằm ở phía những người thưởng thức thì kết quả có thể hoàn toàn khác với những dự đoán của các chuyên gia. Tôi cảm nhận thấy càng ngày ban giám khảo càng cảm thấy khó dung hòa giữa thị hiếu của khán giả với những nhận định chủ quan của mình. Họ cảm thấy “đám đông” ở dưới kia vừa đúng, vừa không đúng và cuối cùng là cảm giác bất lực khi phải đưa ra những nhận xét chẳng “ăn nhập” gì với ý kiến “đám đông” đó. Có lẽ đó là sức ép mà ban đầu ban giám khảo đã không thể hình dung ra (cá nhân tôi tôn trọng ban giám khảo đặc biệt là nhạc sĩ Tuấn Khanh, anh mới “xuất bản” một album mà mọi người có thể nghe miễn phí trên Internet — với những ca khúc chứa đầy trăn trở về cuộc sống và thời cuộc: Bụi Đường Ca).

Trong những vòng cuối của Vietnam Idol, một vấn đề kỹ thuật nổi lên là liệu việc một người có thể nhắn nhiều tin nhắn cho “thần tượng” cùa mình có ảnh hưởng tới kết quả bầu chọn? Về mặt thống kê, nếu chỉ có rất ít người bình chọn thì có khả năng một nhóm người thân của ai đó sẽ gởi nhiều tin nhắn và làm lệch lạc kết quả, nhưng khi số lượng tin nhắn lên tới hàng triệu thì những cố gắng kiểu như thế không có hiệu quả. Hơn nữa, khi một nhóm người gởi nhiều tin nhắn bầu cho thí sinh này thì cũng có nhóm khác gởi nhiều tin bầu chọn thí sinh khác và kết quả sẽ được cân bằng. Ngược lại thì hệ thống tổ chức của các cuộc thi Idol sẽ sụp đổ và nó đã không có mặt ở Việt Nam hôm nay.

Vậy có phải những người vào vòng cuối cùng là những người hát hay hơn những người còn lại? KHÔNG HẰN VẬY. Nhiều người (trong đó có ban giám khảo) không cho rằng nhưng người cuối cùng là xuất sắc nhất và họ ngạc nhiên khi những người hát hay nhất lại bị loại. Thậm chí một số nhạc sĩ nổi tiếng còn cho rằng khán giả Việt Nam là “kém thị hiếu”, không đủ trình độ thưởng thức âm nhạc… Tôi thực sự buồn khi đọc những nhận xét kiểu như vậy, nó thể hiện sự tự ti dân tộc và trên hết là coi thường những người thưởng thức mà nhẽ ra phải là mục tiêu của âm nhạc. Không rõ trình độ thưởng thức của khán giả các nước có tổ chức Idol khác như Indonesia, Ấn Độ… có hơn Việt Nam hay không nhưng chắc mỗi người chúng ta đều không muốn bị mặc định cho là kém hiểu biết.

Nhưng rất có thể khi đưa ra những nhận xét như vậy họ chưa hiểu bản chất thực sự của cuộc chơi này. Bề ngoài nó có vẻ như cuộc tuyển chọn giọng hát hay như bao cuộc thi khác, nhưng thực chất đây là cuộc thi giành cảm tình của khán giả. Thử nhìn Ngọc Ánh, anh ta không phải là người hát hay nhất (ban giám khảo ít khi thực sự đánh giá cao Ngọc Ánh), anh cũng không cao to đẹp trai và cũng không phải là người miền Nam. Cứ theo logic thông thường có thể anh ta đã bị loại từ mấy vòng đầu và thực tế là Ngọc Anh luôn có nguy cơ bị loại ở các vòng đầu. Nhưng càng ngày vị trí của Ngọc Ánh càng vững chắc và anh thẳng tiến tới vòng cuối cùng trong sự mến mộ của các fan thuộc nhiều thành phần khác nhau. Điểm khác biệt lớn nhất của Ngọc Ánh với các thí sinh còn lại chính là sự bất lợi của anh. Anh (vô tình) xây dựng được cho mình hình tượng của một chàng trai tỉnh lẻ — mộc mạc, chân chất — đang khát khao tìm kiếm cơ hội trong một thành phố lớn. Khi ban giám khảo nói rằng Ánh là người “cô đơn” trong cuộc thi này (lời của nhạc sĩ Tuấn Khanh) thì phản ứng tự nhiên của khán giả là muốn đồng hành, nâng đỡ anh.

Vì thế, tôi cho rằng nếu ai trở thành Idol thì đó sẽ là “thần tượng” đúng nghĩa, đơn giản do đây là người giành được cảm tình nhiều nhất của khán giả. Lý lẽ dẫn tới thành công của cuộc thi này như vậy: khán giả là người luôn luôn đúng. Ai sẽ là người bỏ tiền xem biểu diễn, ai sẽ là người mua đĩa nhạc? Nếu người hát hay nhất theo một khuôn mẫu luôn trở thành sao thì nhiều ngôi sao ca nhạc hiện nay có lẽ giờ này đang trình diễn phục vụ một đám cưới náo đó. Không, khán giả có những lý lẽ riêng của họ và tất nhiên họ đúng!

Tổng kết lại, có thể thấy cuộc thi Vietnam Idol (và các cuộc thi Idol nói chung) có 3 điểm dẫn tới thành công:

  1. Tính phổ thông: Thí sinh tham gia cuộc thi này là không chuyên và được tuyển chọn từ nhiều địa phương khác nhau, tạo điều kiện cho tất cả các thành phần tham gia. Có thể có nhiều “pha” biểu diễn thật tức cười nhưng đây chính là điểm mà các cuộc thi khác không thể có được.
  2. Tính tương tác: Việc loại từng thí sinh trực tiếp thông qua hệ thống nhắn tin làm cho cuộc thi ngày càng gay cấn, hấp dẫn. Nó đem lại cảm xúc trái ngược cho mỗi người nhưng quan trọng là mọi người đều cảm thấy mình đang tham gia vào chứ không chỉ chứng kiến thụ động như các cuộc thi khác.
  3. Tính cộng đồng: Thí sinh được khán giả bầu chọn trực tiếp; đây là một điều tuyệt vời và chỉ có trong thời đại viễn thông di động phổ biến như hiện nay mới thực hiện đựơc.

Đến đây, tôi đã giật mình khi nhận thấy những đặc thù của Vietnam Idol thật là giống với Web 2.0, đó là thứ ca nhạc hướng tới khán giả, do khán giả quyết định mình muốn gì, không phải hướng tới các chuyên gia về âm học hay thanh nhạc. Vây nên tôi có thể mạo muội gọi cuộc thi này là “Ca Nhạc 2.0″ được chăng?

Các trang web 2.0 của Việt Nam

Việt Nam, Đánh giá August 25th, 2006


Khó có thể tìm được một trang web 2.0 đúng nghĩa tại Việt Nam, đơn giản vì khái niệm về Web 2.0 còn khá mới mẻ nhưng tôi xin giới thiệu một vài trang web gần với web 2.0 nhất về mặt ý tưởng.

1. LinhPerfume.com

Chàng trai sinh năm 1981, quê Hải Phòng đã quyết định bỏ học khi đang là sinh viên năm thứ 2 trường ĐH Ngoại thương để đi…buôn khiến cho bố mẹ và bạn bè sửng sốt. “Lúc đó mình thấy việc học không phù hợp và mình phải chọn cho mình một hướng đi riêng”. Với suy nghĩ khá đơn giản đó, Hải Linh đã liều lĩnh dấn thân vào con đường kinh doanh từ hai bàn tay trắng.

Đó là vài dòng giới thiệu về anh Hải Linh chủ trang web LinhPerfume.com – một trong những trang web TMĐT thành công của Việt Nam – trên báo Người Lao Động (xin đọc chi tiết ở đây). Bạn có thể vào trang web này mua nước hoa nhưng điểm độc đáo là bạn có thể tham gia đấu giá hàng ngày một chai nước hoa với giá khởi điểm rất thấp (10.000đ). Chúng ta sẽ phân tích LinhPerfume.com từ cái nhìn của web 2.0 theo các tiêu chí mô hình kinh doanh, thiết kế, khả năng tương tác và tính xã hội hóa/cá nhân hóa của nó.

  • Mô hình kinh doanh: Đây là một mô hình kinh doanh độc đáo, nhất là trong hoàn cảnh “èo uột” của thanh toán điện tử tại Việt Nam. Bí quyết của mô hình kinh doanh trên mạng ở nuớc ta là giao hàng tận nơi. Tất nhiên, lợi thế của nước hoa là (1) giá trị lớn và (2) lợi nhuận cao, nếu không, chi phí giao hàng sẽ vượt quá lãi suất (chưa kể đến việc bị “phá” bằng các đơn hàng giả). Đấu giá là lĩnh vực kinh doanh sôi động nhất hiện nay trên net, LinhPerfume.com đã tận dụng được ưu điểm của phương thích kinh doanh này như một công cụ khuyến mại (promotion).
  • Thiết kế: Rõ ràng đây là một trang web được thiết kế cho “chị em” với tông màu hồng. Giao diện sáng sủa và dễ định hướng, chạy rất tốt trên Firefox nhưng không thể coi là một tác phẩm nghệ thuật vì còn quá nhiều hình động choán chỗ, thiếu chăm chút về đồ họa.
  • Tính tương tác: theo kiểu “cổ điển”, nhấp và đợi (click-and-wait), đây không phải là cách của web 2.0. Sẽ tốt hơn nếu bạn thấy được mô tả chi tiết về loại nước hoa khi di trỏ chuột lên hình minh họa.
  • Tính xã hội/cá nhân: Đây là trang web có tính xã hội hóa tương đối cao thể hiện trong forum và đấu giá, nhưng người dùng không có góc riêng của mình để ghi nhận các loại sản phẩm/nhãn hiệu ưa chuộng. Điều này đặc biệt quan trọng với mặt hàng có độ trung thành về nhãn hiệu cao như nước hoa.
  • Đánh giá chung: LinhPerfume.com là trang web độc đáo về ý tuởng nhưng sẽ còn một bước dài để thực sự là web 2.0.
  • Tỷ lệ web 2.0: 35%


Hình 1: Trang chủ LinhPerfume.com – mô hình kinh doanh kiểu web 2.0

2. VietnamWorks.com

VietnamWorks.com là địa chỉ web được lấy làm trang chủ của nhiều công ty săn đầu người (head-hunter) tại Việt Nam. Đây là trang web đi tiên phong trong lĩnh vực tuyển dụng trực tuyến tại Việt Nam (xin tiết lộ, công việc hiện tại của tôi cũng được offer từ trang web này, cảm ơn!). Trang web này hiện đang do Navigosgroup (cũng là một công ty tư vấn nhân lực) quản lý và một trong những trang web đầu tiên nhận được đầu tư từ quĩ IDG Vietnam (venture capital).

  • Mô hình kinh doanh: Trang web tuyển dụng này do người nước ngoài quản lý hoạt động rất bài bản, đó là lý do đem đến thành công. Dịch vụ tuyển dụng là một “big business” (môt công ty SX hàng tiêu dùng trung bình của Việt Nam mà tôi biết đã phải bỏ hơn 500 triệu hàng năm cho việc này) nên không ngạc nhiên khi VietnamWorks.com nhận được nhiều đầu tư nhất là khi internet đang bùng nổ ở nuớc ta.
  • Thiết kế: Tôi đánh giá rất cao thiết kế mới của trang web này. Tôi tin rằng chủ trang web này rất am hiểu về web 2.0. Giao diện rất chuyên nghiệp và trang nhã (elegant), đề mục rõ ràng và dễ định huớng, đây là một bước tiến dài so với phiên bản đầu tiên. Nếu bạn có ý định thiết kế một web 2.0 thì đây là địa chỉ để học hỏi, tuy nhiên, layout của trang web này vẫn dùng table (nhưng đây không phải là vấn đề quá quan trọng).
  • Tính tương tác: Không áp dụng nhiều những kỹ thuật web mới như Ajax nhưng tính tương tác của trang web khá cao. Ví dụ, khi tạo một hồ sơ xin việc, bạn có thể theo cách thông thường là đi từng bước và chọn theo hướng dẫn hay đơn giản hơn là copy CV có sẵn từ văn bản Word vào. Chức năng tôi đánh giá cao nhất là “Quản lý nghề nghiệp” với các mục như thông báo việc làm hay theo dõi công việc giúp bạn luôn có được các thông tin mới nhất về việc làm phù hợp.
  • Tính xã hội/cá nhân: Mặc dù là trang web tuyển dụng hàng đầu của Việt Nam, VietnamWorks.com có vẻ không chú trọng việc xây dựng cộng đồng (như forum hay blog) để người tìm việc có thể trao đổi kinh nghiệm, bình luận đánh giá về các công việc. Nhưng ngược lại bạn có thể có nhiều tùy chọn để cá nhân hóa việc tìm việc của mình (tôi không rõ các chức năng dành cho nhà tuyển dụng thế nào, nếu bạn nào đã dùng xin đánh giá giùm).
  • Đánh giá chung: Đây là một trang web rất gần với tiêu chuẩn web 2.0. Nếu các nhà quản trị ở đây “mạnh tay” trong việc thay đổi thì có thể phiên bản tiếp theo của VietnamWorks.com sẽ là web 2.0? Chúng ta sẽ chờ xem.
  • Tỷ lệ web 2.0: 65%


Hình 2: VietnamWorks.com – Rất gần với web 2.0
nhưng cần có tính cộng đồng cao hơn

Rất tiếc tôi không nhìn thấy nhiều ảnh hưởng của web 2.0 tới Việt Nam, nhưng hy vọng đây không phải là bài đánh giá toàn vẹn và sẽ có những bài viết khác. Nếu các bạn cho rằng có những web 2.0 tại Việt Nam khác xin e-mail cho tôi. Cảm ơn.

Update: Bài viết này được viết khá lâu (tháng 8/2006) nên không có nhiều giá trị thời sự. Loạt bài mới về Web 2.0 tại Việt Nam đã (và sẽ) được đăng. Xin xem: