Web 2.0 Vietnam Logo

BarCamp Saigon 2009: Vài Ghi Nhận

Tổng hợp December 15th, 2009


Trước hết tôi xin cảm ơn các bạn đã tổ chức BarCamp Saigon, đặc biệt là Anh Hùng, Thomas Wanhoff cùng các tình nguyện viên. Các bạn đã phải nỗ lực rất nhiều để có một BarCamp thành công trong điều kiện nhân lực và tài lực đều hạn hẹp.

Nếu các bạn chưa từng biết khái niệm BarCamp là gì thì tôi xin có vài lời giới thiệu: nói chung đây là một kiểu hội nghị cho những người yêu thích công nghệ mà những người chỉ quen tham gia kiểu hội nghị truyền thống sẽ rất dễ bị “sốc”.

Mỗi người tham gia đều có thể trình bày các đề tài mà mình yêu thích nhưng không có bất cứ rằng buộc nào về lịch trình (trừ rằng buộc về thời gian mỗi bài thảo luận không nên kéo dài quá 30 phút để nhường chỗ cho người khác). Sẽ có nhiều đề tài được trình bày cùng lúc (tất nhiên trong các phòng khác nhau) nên bạn sẽ có thể chọn tham dự cái nào bạn thích, bạn quan tâm mà thôi. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu có những phòng có hàng trăm người tham dự trong khi có phòng chỉ lèo tèo vài người. Tinh thần của BarCamp là bạn chính là người tạo nên sự kiện nên bạn có thể thoải mái đặt câu hỏi cho các diễn giả, thậm chí ngắt lời hay lên trình bày ý tưởng riêng của bạn trên diễn đàn.

Cũng như các bạn khác tới tham gia BarCamp, tôi cũng chỉ có thể tham dự được một số buổi thuyết trình. Sau đây là vài ghi nhận của riêng tôi lần lượt theo thứ tự thời gian.

Zing Me 3.0

Chắc các bạn cũng biết tôi đã viết một bài về Zing Me gần đây và đó là lý do vì sao tôi tò mò muốn biết cái gì là Zing Me 3.0. Về căn bản, khái niệm web 3.0 không nhận được nhiều sự cổ vũ của giới công nghệ nhưng nếu coi web thời gian thực (real-time web như Twitter, Facebook chat) là công nghệ web thế hệ thứ ba thì đó là cái Zing Me đang hướng tới.

Zing Me cũng tuyên bố đã mở cửa nền tảng của mình vốn được xây dựng hoàn toàn trên chuẩn Open Social (version 0.9) cho các bên thứ ba được lựa chọn để xây dựng các ứng dụng, game. Các ứng dụng này sẽ có hai lợi thế là tận dụng được user base rất lớn, rất nhiệt tình của VinaGame và (theo tôi quan trọng hơn) là tận dụng được hệ thống thanh toán rất thành công của VinaGame. Tất nhiên, họ sẽ cùng Zing Me chia sẻ lợi nhuận.

Khoảng tới giữa năm tới, nền tảng này sẽ được mở rộng hơn và Zing Me dự định sẽ tổ chức một cuộc thi viết ứng dụng cho mạng xã hội của mình. Hy vọng khi đó chúng ta sẽ hiểu hơn về con số 3.0 của Zing Me.

Ask me about HTML/CSS

Đây là chủ đề của bạn Đức BanMin được khá nhiều người tham dự và đã kéo dài thời gian hơn dự kiến (30′). Theo tôi đây là một cuộc thảo luận đúng theo tinh thần BarCamp khi gần như không có khoảng cách giữa người trình bày và người dự khán.

HTML và CSS không phải là những lĩnh vực dễ nắm vững và làm chủ như nhiều người lầm tưởng. Làm không đúng chúng ta sẽ có một website lệch lạc về cách trình bày, khó dùng và nặng nề khi hiển thị.

Start-up for tech geeks

Một đề tài khá hấp dẫn được trình bày bởi Lê Việt Hồng, nó nêu bật các thách thức, khó khăn về nguồn lực và tâm lý mà một startup thường sẽ phải đối mặt.

Có thể phần lớn những vấn đề mà đề tài nêu lên chúng ta đã đọc ở đâu đó (vì thế một số bạn cho rằng bài thuyết trình này hơi sách vở) nhưng bạn Hồng đã làm nổi bật được những ảo tưởng và hiện thực của các startup tại Việt Nam như đặt ra kỳ vọng quá cao kiểu “đánh bại Google” hay quá chóng chán nản khi không được đầu tư…

Nói chung mỗi startup phải cân bằng được giữa giấc mơ và thực tế, phải luôn đánh giá và tự đổi mới thì mới hy vọng thành công (và nên chấp nhận một thực tế là tỷ lệ thành công khá nhỏ).

Các bạn có thể xem slide của bài thuyết trình này ở đây.

Mozilla

Một trong những bài thuyết trình được mong đợi là từ Gen Kanai, đại diện khu vực của Mozilla. Chủ đề chính là về phiên bản tiếng Việt của Firefox, lộ trình phát triển của Firefox và các dự án khác của Mozilla.

Mozilla cũng cho biết họ ý thức được các vấn đề của Firefox như khởi động chậm, ngốn RAM, hay chết “bất đắc kỳ tử”… và đang làm việc tích cực để cải thiện khi mà Chrome đang có một số lợi thế về công nghệ.

Điểm đáng nói là chỉ có khoảng 10% người dùng Việt Nam dùng phiên bản tiếng Việt của Firefox. Theo đóng góp của tôi, Mozilla nên cải thiện CSDL về IP của Việt Nam để có thể redirect hết người dùng từ Việt Nam tới trang download phiên bản tiếng Việt của Firefox như cách Google đang làm rất tốt.

Vietnam Social Media

Tôi rất tiếc không tham dự buối thuyết trình này từ đầu (vì mải “chém gió” với anh Khải, Zing Me, về mạng XH ở Việt Nam :) ) trong đó có một nghiên cứu gây nhiều tranh cãi là về biểu đồ mức độ tham gia (technograph) của người dùng Việt Nam trên các mạng xã hội. Nhìn chung bức tranh là khá giống với Trung Quốc: tỷ lệ người “cưỡi ngựa xem hoa” (spectators) khá cao trong khi tỷ lệ những người tạo ra nội dung (critics, creators) còn thấp.

Dù còn có nhiều câu hỏi về độ tin cậy của các con số thống kê (như số lượng mẫu, cách tiến hành survey), tôi cho rằng nhóm của bạn Anh Hùng đã làm việc nghiêm túc và như người ta đã nói “mọi thống kê đều có vấn đề nhưng vẫn hơn là chẳng có thống kê nào“.

(Tôi sẽ cập nhật link tới chi tiết kết quả thống kê và cách tiến hành survey khi các tài liệu này được đưa lên mạng.)

Online Marketing

Đây là đề tài được bạn Long (từ BaoMoi.com) và Christopher Trần (giám đốc điều hành công ty AdMax Network) trình bày.

Trong khi bạn Long nói vắn tắt một số kinh nghiệm và dự đoán xu hướng của online marketing tại Việt Nam, trình bày của Chris đi sâu vào cách tiếp cận một cách hệ thống và khoa học với lĩnh vực còn mới mẻ này trong bối cảnh người dùng Việt Nam ngày càng bỏ nhiều thời gian cho các hoạt động online trong khi các công ty FMCG lại khá thờ ơ với quảng cáo mạng.

Một con số đáng suy nghĩ là các cty VN chỉ bỏ dưới 1% ngân sách quảng cáo cho Internet và cuối buổi thảo luận một bạn đã từng làm các chiến dịch QC cho FMCG cho rằng sau khi “test” thì các marketer nhận thấy hiệu quả của quảng cáo online kém xa TV và các kênh media truyền thống tại Việt Nam.

Có thể bạn đó có lý phần nào nhưng theo tôi tỷ lệ ngân sách dưới 1% là con số lố bịch so với số lượng người dùng net hiện nay ở Việt Nam. Vấn đề là ở cách đo lường hiệu quả, thực tế là đo lường hiệu quả QC trên các phương tiện truyền thông truyền thống một cách chính xác là rất khó. Tôi vẫn nhớ một câu nói nổi tiếng của John Wanamaker, người được coi là cha đẻ của quảng cáo hiện đại:

“I know that half of my advertising is wasted but I don’t know what half.”

(Tôi biết rằng một nửa số quảng cáo của mình là lãng phí nhưng tôi không biết là nửa nào.)

Và tôi liên hệ tới một câu nói khác (xin lỗi tôi không nhớ tên tác giả) đại ý là:

“Problem of online marketing is that everything can be measured.”

(Vấn đề của tiếp thị trực tuyến là mọi thứ đều đo lường được.)

Phải chăng người ta đang phung phí tiền bạc vào những thứ khó đo lường được hiệu quả hay họ chưa nắm được cách đo lường hiệu quả của một chiến dịch marketing online khi chỉ nhìn thấy mỗi số “click” mà không biết rằng còn nhiều thông số quan trọng khác?

Tổng Kết

Do không tham dự được BarCamp Saigon lần trước (năm 2008) nên tôi không thể so sánh được mức độ thành công của lần này. Nhưng tôi cho rằng thành công là định nghĩa của riêng từng người.

Nếu mục tiêu chính của các bạn là lấy áo T-Shirt BarCamp hay phù hiệu của Mozilla thì không cần phải bàn thêm. Nếu bạn muốn học được những kiến thức cao siêu thì có thể bạn sẽ thất vọng. Nếu bạn quen với các kiểu hội nghị “nghe là chính” thì bạn sẽ cho rằng BarCamp thiếu nghiêm túc. Nhưng nếu bạn tới BarCamp với hy vọng gặp gỡ thêm vài người, tìm hiểu thêm vài vấn đề nho nhỏ thì bạn sẽ thấy đó là một thành công.

Bản thân tôi rất tiếc không thể phân thân để tham dự được nhiều buổi thuyết trình, thảo luận hơn. Tôi rất muốn nghe về các Advanced Javascript Techniques, về Django, hay về cách các bạn vô hiệu hóa một cuộc tấn công DDOS trong vòng 30 phút…

Tất nhiên BarCamp vẫn còn vài hạt sạn chủ yếu do thái độ thụ động của người tham gia (có thể do dùng Tiếng Anh quá nhiều) và những kiểu đặt câu hỏi “bắt bí” hay kiểu “biết câu trả lời rồi nhưng vẫn hỏi”. Nhưng nhìn chung từ BarCamp chúng ta có thể thấy được một phần bức tranh của giới phát triển công nghệ tại Việt Nam, những trăn trở và hướng phấn đấu của các lập trình viên và các nhà quản lý IT.

Hy vọng được gặp các bạn ở BarCamp sau và rất có thể tôi sẽ có bài thuyết trình riêng tại đó.

Lịch Sử Thăng Trầm Của Friendster

Tổng hợp June 5th, 2008


Friendster là một mạng xã hội gợi cho tôi nhiều suy nghĩ và cảm xúc. Nhân dịp Friendster ra mắt phiên bản tiếng Việt, tôi muốn nhìn lại và tóm lược lịch sử của một trong những mạng xã hội đầu tiên trên thế giới này.

friendster-vietnam-home.gif

Friendster ra đời năm 2002 do Jonathan Abrams sáng lập xuất phát từ một ý tưởng lãng mạn: ông bị thất tình và muốn tìm những cô gái khác từ sổ địa chỉ e-mail của bạn bè. Có thể nói Friendster ra đời đúng vào thời điểm chín muồi cho nhu cầu của một mạng xã hội trong khi các mạng xã hội ra đời trước đó như Six Degrees và SocialNet đều thất bại. Không cần bỏ ra môt xu cho marketing, ngay đến mùa thu năm 2003 Friendster đã có được 3 triệu đăng ký và các báo lớn như Time, Esquire, Vanity Fair, Entertainment Weekly, US Weekly và Spin đều viết về hiện tượng Friendster trong khi còn chưa một ai biết tới MySpace. Jonathan Abrams đã trở nên rất nổi tiếng lúc đó.

Cũng vào thời điểm này Google đã đưa ra đề nghị mua lại Friendster với giá 30 triệu USD trả bằng cổ phiếu — một đề nghị mà nếu Mr. Abrams chấp nhận thì hôm nay có lẽ ông đã có trong tay không dưới 1 tỷ USD cổ phiếu của Google. Tất nhiên ông không chấp nhận — là một kỹ sư khá tự phụ và bị bao phủ bởi bóng mây thành công ông không dễ gì bán đi đứa con của mình như thế — ông muốn tạo nên một đế chế mới có thể sánh vai với những Google, Yahoo…

Social Network

Để chuẩn bị cho kế họach chinh phục đỉnh cao của mình, Friendster đã thu nạp vào ban quản trị những tên tuổi lớn của Sillicon Valley như John Doerr, một VC huyền thoại từ quĩ Kleiner Perkins nơi đã đầu tư vào Google, Netscape, Amazon, và Bob Kagle, quĩ Benchmark Capital, một trong những nhà đầu tư đầu tiên vào eBay. Ngoài ra còn có Timothy A. Koogle, cựu CEO của Yahoo trong thập kỷ 90, Peter A. Thiel, đồng sáng lập PayPal và K. Ram Shriram — người nổi tiếng vì khoản đầu tư ban đầu vào Google (angel investment). Với một đội ngũ đầy tiếng tăm và kinh nghiệm như vậy ít ai có thể nghi ngờ về sự thành công của Friendster, nhưng chớ trêu thay, đây chính là tiên đề cho sự tuột dốc của mạng này.

Mặc dù có lý lịch tuyệt vời, những thành viên của ban quản trị Friendster đều là những người đã trên 50 tuổi, lứa tuổi khó có thể cảm nhận một mạng xã hội thực sự là gì và cần gì. Bản thân Abrams cũng bị áp lực bởi những tên tuổi lớn ấy và đã không thể tập chung thực hiện các kế hoạch của mình. Và trong khi các thành viên ban quản trị họp hành liên tục để nói về Google, Yahoo… hay đưa ra các điều lớn lao cho Friendster như VoIP, bản địa hóa Friendster với các ngôn ngữ Trung, Nhật, về tiềm năng quảng cáo trên mạng… thì họ lại quên đi một thực tế là website đang ngày càng chậm chạp, các chức năng tê liệt và người dùng đang nổi giận vì mỗi trang web phải mất gần cả phút mới hiện ra.

Cũng trong thời điểm này đối thủ mà sau này sẽ biến Friendster thành “lịch sử” xuất hiện — đó không phải ai xa lạ: MySpace. Thế mạnh của MySpace là nó cho phép tùy biến, tô điểm cho lý lịch của người dùng và cung cấp các công cụ thời thượng như blog, photo… Trong khi các đối thủ liên tục đưa ra các chức năng mới thì Friendster lại không thể làm vậy vì mạng này quá chậm và việc đưa thêm các công cụ mới sẽ chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề. Friendster muốn trở thành một Google mới trong khi lại không thể tập chung nguồn lực để giải quyết bài toán kỹ thuật căn bản nhất là tốc độ dịch vụ!

Cuối cùng là những quyết định phản ánh nhãn quan (hẹp hòi) của các nhà quản trị đã làm cho người dùng rời bỏ mạng này như việc cấm đưa hình ảnh tiếu lâm hay hình chó, mèo lên mạng và đưa ra nhiều “nội qui” khác trong khi MySpace khuyến khích người dùng làm bất kỳ những gì họ muốn. Năm 2004 đánh dấu sự bùng nổ của MySpace và mặc dù liên tục thay đổi giám đốc điều hành Friendster vẫn mất dần những người dùng trung thành đặc biệt là tại Mỹ. Năm 2006, theo comScore số lượng người dùng thực của MySpace đã lớn gấp hơn 50 lần của Friendster. Một năm trước đó (2005) MySpace đã được News Corporation của tỷ phú truyền thông Rupert Murdoch mua lại với giá $580 triệu USD còn Friendster được rao bán nhưng cũng chẳng nhà đầu tư nào chịu bỏ ra dù chỉ $20 triệu USD – trong thế giới web, ranh giới giữa thành công và thất bại thật là đậm nét!

Đầu năm 2006, Friendster quyết định tái cấu trúc bằng việc giải tán ban giám đốc trên ngũ tuần của mình và tập chung hầu hết nguồn lực vào việc cải thiện tốc độ của dịch vụ. Họ cũng vứt bỏ những dự định viển vông và định vị mình như một mạng xã hội dành cho nhóm người lớn tuổi hơn, khuyến khích người dùng tại các khu vực ngoài nước Mỹ. Ba phần tư người dùng Friendster đến từ các nước châu Á như Philippines, Malaysia, Singapore… và có lẽ vì thế họ đang nhìn Việt Nam như một cơ hội mới.

Chào mừng Friendster tới Việt Nam! Với tôi mạng xã hội này là những bài học về quyết định, sự tập trung, cách lựa chọn công nghệ và nhãn quan. Một trang web chỉ có thể thành công nếu nó không bắt người dùng phải chờ đợi, một mạng xã hội chỉ thành công khi nó cho phép các cá nhân thể hiện mình. Cơ hội trên web rất ngắn ngủi và nếu bạn không thể tận dụng nó thành công thì hàng chục đối thủ khác sẽ rất vui lòng thế chân bạn. Tại Mỹ, Friendster đã trở thành lịch sử nhưng liệu mạng này có tìm thấy tương lai tại Việt Nam hay không?

Những Blog Đắt Giá Nhất Thế Giới

Tổng hợp April 1st, 2008


Bạn có bao giờ nghĩ tới chuyện bán blog của mình với giá vài triệu USD hay không? Câu trả lời là có NẾU bạn sở hữu một trong 25 blog có giá trị cao nhất thế giới do “24/7 Walls” đánh giá dựa trên cơ sở pageviews từ các nguồn độc lập như Alexa, Complete, Quantcast và khả năng sinh lợi từ quảng cáo trực tuyến của từng blog. Ngoài ra khả năng phát triển và chi phí cho đội ngũ biên tập viên (BTV) cũng được xét tới để định giá các blog này.

Chúng ta sẽ xem danh sách một số blog hay chính xác hơn là các cty nắm giữ những blog có giá trị cao nhất:

1. Các blog của cty Gawker: 150 triệu USD. Cty Gawker sở hữu nhiều blog nổi tiếng như Gawker, ValleyWag, Gizmodo, Wonkette… Theo thống kê từ nhiều nguồn các blog này có khoảng 30 triệu người ghé qua (unique visitor) hàng tháng, nếu mỗi người đọc 1,5 trang và thu nhập trên 1000 pageviews (CPM) là khoảng $20 thì doanh thu hàng năm của Gawker ở mức 11 triệu USD. Với đội ngũ BTV khá lớn, tỷ suất lợi nhuận biến tế (profit margin) của cty này vào khoảng 50% (tức là 5,5 triệu) và số này nhân với 15 – 30 lần (do tốc độ phát triển của các blog này khá cao) thì sẽ có giá trị của công ty Gawker.

Gawker.com Home Page

2. MacRumors: 85 triệu USD. Đây là blog chuyên về cty Apple (người ta nói rằng nó còn thạo tin về Apple hơn cả chính ban quản trị cty :) ). Blog này đứng ở vị trí 2700 trên Alexa và Quantcast báo cáo có khoảng 4,3 triệu người đọc hàng tháng nhưng lại có số pageviews lên tới 33 triệu. Quảng cáo trên blog này cũng có giá cao nên ước tính CPM khoảng $30 tức doanh thu hàng năm ít nhất là 12 triệu USD với tỷ suất lợi nhuận chừng 60%. Chỉ số định giá là 12 lần lợi nhuận.

MacRumors Home Page

3. Huffington Post: 70 triệu USD. Đây là cái tên khá xa lạ với Việt Nam vì blog này chuyên về các chuyện chính trị của Mỹ. Thực tế blog này chưa có lời nhưng đang thu hút được khoảng 4 triệu người đọc hàng tháng nên ước tính năm nay blog có thể kiếm được khoảng 7,5 triệu USD từ quảng cáo. Do sắp tới kỳ bầu cử tổng thống của Mỹ nên pageviews của blog này tăng rất nhanh (nhưng cũng có thể sẽ xuống rất nhanh sau kỳ bầu cử). Huff Post đã được đầu tư gần 7 triệu USD và nhân với 10 lần để cho ra giá trị hiện tại.

HuffPost Home Page

4. PerezHilton: 48 triệu USD. Đây là blog chuyên về các chuyện của các ngôi sao Hollywood có thứ hạng Alexa là 755 và Quantcast cho biết có khoảng 10 triệu người đọc hàng tháng với 191 triệu pageviews. Tuy nhiên CPM của PerezHilton khá thấp chỉ khoảng 5 USD nên có doanh thu ước chừng 900.000 USD/tháng hay 11 triệu USD/năm và tỷ suất lợi nhuận trên 50%. Chỉ số định giá là 8 lần lợi nhuận.

PerezHilton Home Page

5. TechCrunch: 36 triệu USD. TechCrunch (gồm TechCrunch DOT com và blog nhỏ khác) cho biết có 3.2 triệu người đọc và có số pageviews là 14.6 triệu. Do đọc giả của TechCrunch có trình độ cao nên CPM của blog này ít nhất đạt 30 USD tức là có doanh thu khoảng 5,3 triệu USD/năm. Ngoài ra, TechCrunch còn tổ chức các hội thảo với doanh thu chừng 600.000 USD/năm nên đây là “doanh nghiệp” có doanh thu 6 triệu USD và tỷ suất lợi nhuận 40%. Vì blog này phụ thuộc nhiều vào một cá nhân nên có rủi ro cao và do đó chỉ số định giá chỉ là 15 lần lợi nhuận.

TechCrunch Home Page

Theo sau TechCrunch là một loạt các tech blog khác như Ars Technica (15 triệu), Mashable (10 triệu), GigaOm (8,4 triệu), Boing Boing (8 tr), Silicon Alley Insider (5.4 tr), ReadWriteWeb (5 triệu) và có thể nhắc tới một blog về design nổi tiếng là Smashing Magazine có giá 2.7 triệu.

Nhìn vào “bảng phong thần” này có thể thấy các blog công nghệ vẫn chiếm ưu thế; tiếp đến là các blog chính trị, tài chính. Tất nhiên blog viết về các ngôi sao màn bạc thì ở đâu cũng là người khổng lồ về pageview nhưng không hẳn có khả năng motetizing tốt vì không chọn lọc người đọc.

Ở Việt Nam, việc kiếm tiền từ blog chưa có tính hiện thực mặc dù tôi nghe nói có blog đã được trả tới cả triệu USD (?) Nhưng tôi không nghi ngờ về khả năng cạnh tranh của blog với báo chí truyền thống. Đề tài của các top blog tại Việt Nam cũng khác so với Mỹ: các blog về xã hội và văn nghệ sĩ chiếm ưu thế và chưa có blog công nghệ nào có số pageview vượt trội. Tuy nhiên, có thể là một chiến lược tốt cho các nhà đầu tư bỏ tiền vào các blog hàng đầu tại Việt Nam.

Phải nói thêm rằng các blog hàng đầu của Mỹ hoạt động như các doanh nghiệp (có đăng ký) và có một đội ngũ BTV chuyên nghiệp. Michael Arrington của TechCrunch và các blogger ở đó được ngủ rất ít vì phải ngày đêm không ngừng post các đánh giá, thông tin mới. Các blogger là những người phải chịu áp lực rất cao từ những gì mình viết ra vì không như báo chí họ không thể ẩn danh khi viết về các đề tài nhạy cảm. Nói chung cái gì cũng có giá của nó và biết đâu trong 10 năm tới danh sách những nghề tổn thọ nhất sẽ có nghề blogger?

Ứng dụng 2.0 nào không thể thiếu với bạn?

Tổng hợp, Đánh giá January 3rd, 2008


Mike Arrington vừa công bố danh sách các ứng dụng web 2.0 mà ông “couldn’t live without” trong năm 2008:

Trong danh sách trên, ngoài một vài cái quá đặc thù và các web nghe nhạc trực tuyến, tôi dùng hầu hết các ứng dụng đã được nhắc tới. Trong số này tôi có vài nhận xét:

  1. del.icio.us là site bookmark hàng đầu, tôi đang dùng một plugin của Firefox để giúp bookmark các bài viết ưa thích nhanh hơn. Điều phiền toái duy nhất là cách tag theo từ, chứ không phải cụm từ làm cho danh mục bị phân mảnh và khó tìm được bài lưu trữ. Ngoài ra, nhiều trang web đã biến mất sau một thời gian.

  2. Digg chủ yếu để theo dõi các tin nóng. Nhưng đa số là tin “made in USA” nên nhiều khi khá vô bổ.

  3. Firefox: Khỏi cần nói, tôi dùng Firefox làm trình duyệt mặc định với hàng chục plugin. Đây chính ứng dụng mà tôi “couldn’t live without”. Tuy nhiên có lẽ do overuse trình duyệt này nên nó chiếm RAM kinh khủng. Disclosure: gần hơn 70% người truy cập vào blog này dùng Firefox.

  4. Flickr: Tôi không dùng ứng dụng này nhiều do ít có hứng thú chụp hình, chủ yếu để lưu trữ hình của gia đình.

  5. Gmail: Sure, đây là ứng dụng mail cách mạng.

  6. Google Reader: Tôi không khoái trình đọc RSS này lắm vì nó hơi thô sơ. Tôi dùng FeedReady!

  7. Netvibes: Tôi là fan của Netvibes, với hàng ngàn plugin đây là trang chủ trên cả tuyệt vời.

  8. TechMeme: Trang web nên đọc hàng ngày cho dân sính công nghệ.

  9. Technorati: Tôi dùng nó chủ yếu để xem xếp hạng blog.

  10. Wordpress: Tất nhiên đây là ứng dụng không thể thiếu vì blog này làm trên Wordpress. Nhiều plugin của Wordpress rất có giá trị nhưng đôi khi phải mất khá nhiều thời gian mới dùng được.

  11. YouTube: Quá chậm nếu xem từ Việt Nam. Tôi thích Clip.vn hơn.

  12. Zoho: Tôi ít dùng Zoho vì nó hơi chậm so với Google Docs.

Tôi vẫn chưa dùng Twitter, không biết có ứng dụng nào tương tự ở Việt Nam chưa? Còn những ứng dụng 2.0 mà bạn không thể thiếu là gì?

10 năm với Internet

Tổng hợp, Việt Nam November 30th, 2007


Chúng ta vừa kỷ niệm 10 năm ngày kết nối Internet và cùng với nó là sự thay đổi lớn lao trong xã hội Việt Nam. Đây là những hồi ức và suy nghĩ của tôi sau gần 10 năm trên Net.

Những ngày chập chững (1997 – 1998)

Không lâu sau khi Việt Nam kết nối Internet, tôi có dịp lần đầu tiên vào Net tại Đại học Bách Khoa TP.HCM. Đây là nơi duy nhất tôi có thể truy cập Internet với giá chỉ đúng bằng tiền mướn máy tính ở ngoài (khoàng 2000đ/h). Khi đó thậm chí tôi chưa biết tới Google — dịch vụ tìm kiếm thống trị là Yahoo bên cạnh đó là nhiều tên tuổi khác mà đến giờ này đã trở thành khá xa lạ với phần lớn các bạn như AltaVista, Lycos, WebCrawler… Đây là thời kỳ bắt đầu bùng nổ của các dot-com. Các dịch vụ web mọc lên như nấm tìm đủ mọi cách để lôi kéo khách hàng đăng ký vào web của mình như quảng cáo, dội bom thư… Nhân viên của các công ty Internet làm việc như điên với hy vọng công ty mình sẽ có ngày “lên sàn” (IPO) và sẽ trở thành triệu phú sau một đêm.

Điều bực mình nhất với tôi lúc ấy là hộp thư của Yahoo!Mail chỉ cho có 2 MB và nếu không truy cập vào đó trong 3 tháng nó sẽ thẳng tay xóa sổ tài khoản của bạn. Tôi ít nhất cũng mất vài tài khoản với những tên khá đẹp như hongquang@yahoo.com… Các dịch vụ mail khác cũng có những điều kiện ngặt nghèo không kém, cái rộng rãi nhất cũng chỉ cho bạn hộp thư 8 MB nhưng để đăng ký vào các dịch vụ này thì bạn sẽ phải là người rất kiên nhẫn. Triết lý của các công ty Internet thời đó là càng thu thập được nhiều thông tin của người dùng càng tốt (cái này chắc là lấy ý tưởng từ marketing của FMCG). Thế là mỗi lần đăng ký bất cứ một dịch vụ nào bạn cũng phải điền đủ thứ thông tin gia phả vào một (hay nhiều) biểu mẫu dài dằng dặc. Quả là cơn ác mộng của kỷ nguyên web 1.0!

netscape1_1.jpg

Trình duyệt Netscape Navigator là mặc định, còn rất ít người dùng Internet Explorer. Mạng chậm khủng khiếp, thường phải mất một vài phút để truy cập vào được một trang web nếu may mắn kết nối không bị đứt vô thời hạn. Nhưng niềm hạnh phúc được nhìn ra thế giới bù đắp cho tất cả mặc dù web lúc đó còn khá hỗn loạn, để tìm ra được đủ thông tin bạn thường cần những tool giúp sục sạo vào 10 search engine khác nhau củng lúc. Tôi vẫn nhớ mình đã làm bài luận về chính sách tiền tệ với tài liệu thu thập từ Internet (quá oai!) trong đó có bài viết của một cựu cục trưởng Cục dự trữ liên bang Mỹ. Một trong những vấn đề ông kinh nghiệm có đại ý là “Chính sách tiền tệ có ảnh hưởng tới nền kinh tế với tốc độ chậm nên phải có sự nhạy cảm để dự báo trước được các vấn đề như lạm phát. Còn khi nó đã xảy ra rồi mới điều chỉnh chính sách thì đã quá muộn.” Nhìn tình hình lạm phát, giá cả tăng vọt ở nước ta như hiện nay thì chẳng biết có ai trong những người làm chính sách tiền tệ của chúng ta đọc bài học đã có trên Net từ 10 năm trước này không?

Thời của Dial-up (1999 – 2002)

Những năm sau tôi đã có thể truy cập web ở nhà qua kết nối dial-up. Tuy nhiên, đó là một sự xa xỉ vì giá cước trên trời, muốn tiết kiệm tiền tôi thường phải thức đêm để được giảm giá hay miễn phí cước truy cập. Thú thực những năm 1999 – 2002 tôi không hứng thú với Internet lắm một phần vì sự sụp đổ của dot-com và phần khác vì đường truy cập quá chậm để có thể thực sự làm được gì có ích trên Net.

Đây cũng là thời kỳ mà Netscape bị Internet Explorer đánh bại bằng chiêu bài “miễn phí và tích hợp”. Windows 98/XP và bộ Office làm mưa làm gió với vị thế gần như tuyệt đối trên desktop. Các dot-com rơi rụng gần hết và bạn có thể tìm mọi thứ trên Net bằng Google.

Công việc chủ yếu khi nối mạng của tôi là để tìm và download các phần mềm. Quá bực mình với sự chậm chạp của dial-up tôi đã viết một bài về cách tối ưu hóa modem và tăng tốc download, lướt web đăng trên diễn dàn của VNN — bài viết này sau đó được đăng lại tại website của anh Le Hoan (và tại nhiều trang web khác), nó trở nên nổi tiếng đến mức cho đến gần đây tôi vẫn còn nhận được mail hỏi về cách tối ưu hoá modem :)

Trở lại với Net (2003 – 2007)

Năm 2003, trảo lưu chat chít bắt đầu nở rộ cùng với sự xuất hiện của băng thông rộng ADSL. Tôi cảm thấy rất hứng khởi và tò mò không hiểu công nghệ nào giúp việc truyền thông điệp qua các mạng chat nhanh với tốc độ gần thời gian thực đến thế. Lúc này Yahoo!Chat còn chưa cho phép gõ tiếng Việt (cả Unicode và các font nội địa) và tất nhiên phải viết message kiểu không dấu hay kiểu VIQR trông rất loằng ngoằng khó đọc.

Thế là, một lần nữa bức xúc quá, tôi ngồi xuống viết ứng dụng chat có tên OlaalO!Chat dành riêng cho người Việt Nam. OlaalO!Chat dùng giao thức Jabber (giao thức này hiện đang được Google dùng trong GTalk) và viết trên .Net. Nó có khá nhiều tính năng vượt trội so với Yahoo!Chat lúc ấy, đặc biệt nó cho phép bạn gởi thông điệp bằng bất kỳ font chữ nào bạn có (các bạn có thể xem bài giới thiệu trên Echip và trên trang web của OlaalO!Chat). Nhưng OlaalO!Chat không cất cánh như tôi mong muốn (mặc dù đã thu hút được vài ngàn đăng ký) do hạn chế cả về hạ tầng lẫn marketing nên không thể tạo ra network effect; ngoài ra Yahoo!Chat đã trở nên quá lớn để bị thay thế. Cuối cùng câu hỏi đặt ra với một mạng chat là “Bạn đăng ký vào một mạng chat để làm gì khi mà tất cả bạn bè mình ở một mạng khác?” Đây cũng vẫn là câu hỏi dành cho Zing Chat hôm nay.

mainwin_fuctions_vi.png

chat_win_vi.png

Năm 2004, việc làm OlaalO!Chat bất ngờ mang lại cho tôi một sự chuyển hướng khác: từ bỏ làm kinh doanh, chuyển qua làm IT. Cuối cùng tôi muốn làm cái gì mình thực sự thích thú và tôi đã không phải hối hận vì quyết định này.

Năm 2005, tôi bắt đầu biết tới web 2.0 và thường xuyên vào TechCrunch để xem ứng dụng web nào sẽ là “the next big thing”.

Năm 2006, lấy cảm hứng từ bài viết của javaeater trên JavaVietnam.org, blog “Web 2.0 – Vietnam” ra đời.

Năm 2007, nhiều dự định, tính toán… nhưng chắc chắn tôi sẽ tiếp tục đi cùng với web 2.0.

Tổng kết

Kể từ khi ngắm nhìn bánh lái của thuyền trưởng Netscape Navigator với một cảm giác thật “vĩ đại” vì mình đã được vào Internet đến khi hòa mình vào cuộc cách mạng Web 2.0 là một chặng đường dài với nhiều thay đổi trong cuộc đời. Cuối cùng tôi lại trở về với Internet và hy vọng sẽ làm được gì đó trên Net và cho Net trong 10 năm tiếp theo. Không rõ đây là định mệnh hay duyện nợ nhưng tôi muốn nói lời cảm ơn với Internet và những người đã đưa Internet vào Việt Nam.

Vài dòng cảm xúc chia sẻ cùng các bạn!