Web 2.0 Vietnam Logo

Lịch Sử Thăng Trầm Của Friendster

Tổng hợp June 5th, 2008


Friendster là một mạng xã hội gợi cho tôi nhiều suy nghĩ và cảm xúc. Nhân dịp Friendster ra mắt phiên bản tiếng Việt, tôi muốn nhìn lại và tóm lược lịch sử của một trong những mạng xã hội đầu tiên trên thế giới này.

friendster-vietnam-home.gif

Friendster ra đời năm 2002 do Jonathan Abrams sáng lập xuất phát từ một ý tưởng lãng mạn: ông bị thất tình và muốn tìm những cô gái khác từ sổ địa chỉ e-mail của bạn bè. Có thể nói Friendster ra đời đúng vào thời điểm chín muồi cho nhu cầu của một mạng xã hội trong khi các mạng xã hội ra đời trước đó như Six Degrees và SocialNet đều thất bại. Không cần bỏ ra môt xu cho marketing, ngay đến mùa thu năm 2003 Friendster đã có được 3 triệu đăng ký và các báo lớn như Time, Esquire, Vanity Fair, Entertainment Weekly, US Weekly và Spin đều viết về hiện tượng Friendster trong khi còn chưa một ai biết tới MySpace. Jonathan Abrams đã trở nên rất nổi tiếng lúc đó.

Cũng vào thời điểm này Google đã đưa ra đề nghị mua lại Friendster với giá 30 triệu USD trả bằng cổ phiếu — một đề nghị mà nếu Mr. Abrams chấp nhận thì hôm nay có lẽ ông đã có trong tay không dưới 1 tỷ USD cổ phiếu của Google. Tất nhiên ông không chấp nhận — là một kỹ sư khá tự phụ và bị bao phủ bởi bóng mây thành công ông không dễ gì bán đi đứa con của mình như thế — ông muốn tạo nên một đế chế mới có thể sánh vai với những Google, Yahoo…

Social Network

Để chuẩn bị cho kế họach chinh phục đỉnh cao của mình, Friendster đã thu nạp vào ban quản trị những tên tuổi lớn của Sillicon Valley như John Doerr, một VC huyền thoại từ quĩ Kleiner Perkins nơi đã đầu tư vào Google, Netscape, Amazon, và Bob Kagle, quĩ Benchmark Capital, một trong những nhà đầu tư đầu tiên vào eBay. Ngoài ra còn có Timothy A. Koogle, cựu CEO của Yahoo trong thập kỷ 90, Peter A. Thiel, đồng sáng lập PayPal và K. Ram Shriram — người nổi tiếng vì khoản đầu tư ban đầu vào Google (angel investment). Với một đội ngũ đầy tiếng tăm và kinh nghiệm như vậy ít ai có thể nghi ngờ về sự thành công của Friendster, nhưng chớ trêu thay, đây chính là tiên đề cho sự tuột dốc của mạng này.

Mặc dù có lý lịch tuyệt vời, những thành viên của ban quản trị Friendster đều là những người đã trên 50 tuổi, lứa tuổi khó có thể cảm nhận một mạng xã hội thực sự là gì và cần gì. Bản thân Abrams cũng bị áp lực bởi những tên tuổi lớn ấy và đã không thể tập chung thực hiện các kế hoạch của mình. Và trong khi các thành viên ban quản trị họp hành liên tục để nói về Google, Yahoo… hay đưa ra các điều lớn lao cho Friendster như VoIP, bản địa hóa Friendster với các ngôn ngữ Trung, Nhật, về tiềm năng quảng cáo trên mạng… thì họ lại quên đi một thực tế là website đang ngày càng chậm chạp, các chức năng tê liệt và người dùng đang nổi giận vì mỗi trang web phải mất gần cả phút mới hiện ra.

Cũng trong thời điểm này đối thủ mà sau này sẽ biến Friendster thành “lịch sử” xuất hiện — đó không phải ai xa lạ: MySpace. Thế mạnh của MySpace là nó cho phép tùy biến, tô điểm cho lý lịch của người dùng và cung cấp các công cụ thời thượng như blog, photo… Trong khi các đối thủ liên tục đưa ra các chức năng mới thì Friendster lại không thể làm vậy vì mạng này quá chậm và việc đưa thêm các công cụ mới sẽ chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề. Friendster muốn trở thành một Google mới trong khi lại không thể tập chung nguồn lực để giải quyết bài toán kỹ thuật căn bản nhất là tốc độ dịch vụ!

Cuối cùng là những quyết định phản ánh nhãn quan (hẹp hòi) của các nhà quản trị đã làm cho người dùng rời bỏ mạng này như việc cấm đưa hình ảnh tiếu lâm hay hình chó, mèo lên mạng và đưa ra nhiều “nội qui” khác trong khi MySpace khuyến khích người dùng làm bất kỳ những gì họ muốn. Năm 2004 đánh dấu sự bùng nổ của MySpace và mặc dù liên tục thay đổi giám đốc điều hành Friendster vẫn mất dần những người dùng trung thành đặc biệt là tại Mỹ. Năm 2006, theo comScore số lượng người dùng thực của MySpace đã lớn gấp hơn 50 lần của Friendster. Một năm trước đó (2005) MySpace đã được News Corporation của tỷ phú truyền thông Rupert Murdoch mua lại với giá $580 triệu USD còn Friendster được rao bán nhưng cũng chẳng nhà đầu tư nào chịu bỏ ra dù chỉ $20 triệu USD - trong thế giới web, ranh giới giữa thành công và thất bại thật là đậm nét!

Đầu năm 2006, Friendster quyết định tái cấu trúc bằng việc giải tán ban giám đốc trên ngũ tuần của mình và tập chung hầu hết nguồn lực vào việc cải thiện tốc độ của dịch vụ. Họ cũng vứt bỏ những dự định viển vông và định vị mình như một mạng xã hội dành cho nhóm người lớn tuổi hơn, khuyến khích người dùng tại các khu vực ngoài nước Mỹ. Ba phần tư người dùng Friendster đến từ các nước châu Á như Philippines, Malaysia, Singapore… và có lẽ vì thế họ đang nhìn Việt Nam như một cơ hội mới.

Chào mừng Friendster tới Việt Nam! Với tôi mạng xã hội này là những bài học về quyết định, sự tập trung, cách lựa chọn công nghệ và nhãn quan. Một trang web chỉ có thể thành công nếu nó không bắt người dùng phải chờ đợi, một mạng xã hội chỉ thành công khi nó cho phép các cá nhân thể hiện mình. Cơ hội trên web rất ngắn ngủi và nếu bạn không thể tận dụng nó thành công thì hàng chục đối thủ khác sẽ rất vui lòng thế chân bạn. Tại Mỹ, Friendster đã trở thành lịch sử nhưng liệu mạng này có tìm thấy tương lai tại Việt Nam hay không?

Những Blog Đắt Giá Nhất Thế Giới

Tổng hợp April 1st, 2008


Bạn có bao giờ nghĩ tới chuyện bán blog của mình với giá vài triệu USD hay không? Câu trả lời là có NẾU bạn sở hữu một trong 25 blog có giá trị cao nhất thế giới do “24/7 Walls” đánh giá dựa trên cơ sở pageviews từ các nguồn độc lập như Alexa, Complete, Quantcast và khả năng sinh lợi từ quảng cáo trực tuyến của từng blog. Ngoài ra khả năng phát triển và chi phí cho đội ngũ biên tập viên (BTV) cũng được xét tới để định giá các blog này.

Chúng ta sẽ xem danh sách một số blog hay chính xác hơn là các cty nắm giữ những blog có giá trị cao nhất:

1. Các blog của cty Gawker: 150 triệu USD. Cty Gawker sở hữu nhiều blog nổi tiếng như Gawker, ValleyWag, Gizmodo, Wonkette… Theo thống kê từ nhiều nguồn các blog này có khoảng 30 triệu người ghé qua (unique visitor) hàng tháng, nếu mỗi người đọc 1,5 trang và thu nhập trên 1000 pageviews (CPM) là khoảng $20 thì doanh thu hàng năm của Gawker ở mức 11 triệu USD. Với đội ngũ BTV khá lớn, tỷ suất lợi nhuận biến tế (profit margin) của cty này vào khoảng 50% (tức là 5,5 triệu) và số này nhân với 15 - 30 lần (do tốc độ phát triển của các blog này khá cao) thì sẽ có giá trị của công ty Gawker.

Gawker.com Home Page

2. MacRumors: 85 triệu USD. Đây là blog chuyên về cty Apple (người ta nói rằng nó còn thạo tin về Apple hơn cả chính ban quản trị cty :) ). Blog này đứng ở vị trí 2700 trên Alexa và Quantcast báo cáo có khoảng 4,3 triệu người đọc hàng tháng nhưng lại có số pageviews lên tới 33 triệu. Quảng cáo trên blog này cũng có giá cao nên ước tính CPM khoảng $30 tức doanh thu hàng năm ít nhất là 12 triệu USD với tỷ suất lợi nhuận chừng 60%. Chỉ số định giá là 12 lần lợi nhuận.

MacRumors Home Page

3. Huffington Post: 70 triệu USD. Đây là cái tên khá xa lạ với Việt Nam vì blog này chuyên về các chuyện chính trị của Mỹ. Thực tế blog này chưa có lời nhưng đang thu hút được khoảng 4 triệu người đọc hàng tháng nên ước tính năm nay blog có thể kiếm được khoảng 7,5 triệu USD từ quảng cáo. Do sắp tới kỳ bầu cử tổng thống của Mỹ nên pageviews của blog này tăng rất nhanh (nhưng cũng có thể sẽ xuống rất nhanh sau kỳ bầu cử). Huff Post đã được đầu tư gần 7 triệu USD và nhân với 10 lần để cho ra giá trị hiện tại.

HuffPost Home Page

4. PerezHilton: 48 triệu USD. Đây là blog chuyên về các chuyện của các ngôi sao Hollywood có thứ hạng Alexa là 755 và Quantcast cho biết có khoảng 10 triệu người đọc hàng tháng với 191 triệu pageviews. Tuy nhiên CPM của PerezHilton khá thấp chỉ khoảng 5 USD nên có doanh thu ước chừng 900.000 USD/tháng hay 11 triệu USD/năm và tỷ suất lợi nhuận trên 50%. Chỉ số định giá là 8 lần lợi nhuận.

PerezHilton Home Page

5. TechCrunch: 36 triệu USD. TechCrunch (gồm TechCrunch DOT com và blog nhỏ khác) cho biết có 3.2 triệu người đọc và có số pageviews là 14.6 triệu. Do đọc giả của TechCrunch có trình độ cao nên CPM của blog này ít nhất đạt 30 USD tức là có doanh thu khoảng 5,3 triệu USD/năm. Ngoài ra, TechCrunch còn tổ chức các hội thảo với doanh thu chừng 600.000 USD/năm nên đây là “doanh nghiệp” có doanh thu 6 triệu USD và tỷ suất lợi nhuận 40%. Vì blog này phụ thuộc nhiều vào một cá nhân nên có rủi ro cao và do đó chỉ số định giá chỉ là 15 lần lợi nhuận.

TechCrunch Home Page

Theo sau TechCrunch là một loạt các tech blog khác như Ars Technica (15 triệu), Mashable (10 triệu), GigaOm (8,4 triệu), Boing Boing (8 tr), Silicon Alley Insider (5.4 tr), ReadWriteWeb (5 triệu) và có thể nhắc tới một blog về design nổi tiếng là Smashing Magazine có giá 2.7 triệu.

Nhìn vào “bảng phong thần” này có thể thấy các blog công nghệ vẫn chiếm ưu thế; tiếp đến là các blog chính trị, tài chính. Tất nhiên blog viết về các ngôi sao màn bạc thì ở đâu cũng là người khổng lồ về pageview nhưng không hẳn có khả năng motetizing tốt vì không chọn lọc người đọc.

Ở Việt Nam, việc kiếm tiền từ blog chưa có tính hiện thực mặc dù tôi nghe nói có blog đã được trả tới cả triệu USD (?) Nhưng tôi không nghi ngờ về khả năng cạnh tranh của blog với báo chí truyền thống. Đề tài của các top blog tại Việt Nam cũng khác so với Mỹ: các blog về xã hội và văn nghệ sĩ chiếm ưu thế và chưa có blog công nghệ nào có số pageview vượt trội. Tuy nhiên, có thể là một chiến lược tốt cho các nhà đầu tư bỏ tiền vào các blog hàng đầu tại Việt Nam.

Phải nói thêm rằng các blog hàng đầu của Mỹ hoạt động như các doanh nghiệp (có đăng ký) và có một đội ngũ BTV chuyên nghiệp. Michael Arrington của TechCrunch và các blogger ở đó được ngủ rất ít vì phải ngày đêm không ngừng post các đánh giá, thông tin mới. Các blogger là những người phải chịu áp lực rất cao từ những gì mình viết ra vì không như báo chí họ không thể ẩn danh khi viết về các đề tài nhạy cảm. Nói chung cái gì cũng có giá của nó và biết đâu trong 10 năm tới danh sách những nghề tổn thọ nhất sẽ có nghề blogger?

Ứng dụng 2.0 nào không thể thiếu với bạn?

Tổng hợp, Đánh giá January 3rd, 2008


Mike Arrington vừa công bố danh sách các ứng dụng web 2.0 mà ông “couldn’t live without” trong năm 2008:

Trong danh sách trên, ngoài một vài cái quá đặc thù và các web nghe nhạc trực tuyến, tôi dùng hầu hết các ứng dụng đã được nhắc tới. Trong số này tôi có vài nhận xét:

  1. del.icio.us là site bookmark hàng đầu, tôi đang dùng một plugin của Firefox để giúp bookmark các bài viết ưa thích nhanh hơn. Điều phiền toái duy nhất là cách tag theo từ, chứ không phải cụm từ làm cho danh mục bị phân mảnh và khó tìm được bài lưu trữ. Ngoài ra, nhiều trang web đã biến mất sau một thời gian.

  2. Digg chủ yếu để theo dõi các tin nóng. Nhưng đa số là tin “made in USA” nên nhiều khi khá vô bổ.

  3. Firefox: Khỏi cần nói, tôi dùng Firefox làm trình duyệt mặc định với hàng chục plugin. Đây chính ứng dụng mà tôi “couldn’t live without”. Tuy nhiên có lẽ do overuse trình duyệt này nên nó chiếm RAM kinh khủng. Disclosure: gần hơn 70% người truy cập vào blog này dùng Firefox.

  4. Flickr: Tôi không dùng ứng dụng này nhiều do ít có hứng thú chụp hình, chủ yếu để lưu trữ hình của gia đình.

  5. Gmail: Sure, đây là ứng dụng mail cách mạng.

  6. Google Reader: Tôi không khoái trình đọc RSS này lắm vì nó hơi thô sơ. Tôi dùng FeedReady!

  7. Netvibes: Tôi là fan của Netvibes, với hàng ngàn plugin đây là trang chủ trên cả tuyệt vời.

  8. TechMeme: Trang web nên đọc hàng ngày cho dân sính công nghệ.

  9. Technorati: Tôi dùng nó chủ yếu để xem xếp hạng blog.

  10. Wordpress: Tất nhiên đây là ứng dụng không thể thiếu vì blog này làm trên Wordpress. Nhiều plugin của Wordpress rất có giá trị nhưng đôi khi phải mất khá nhiều thời gian mới dùng được.

  11. YouTube: Quá chậm nếu xem từ Việt Nam. Tôi thích Clip.vn hơn.

  12. Zoho: Tôi ít dùng Zoho vì nó hơi chậm so với Google Docs.

Tôi vẫn chưa dùng Twitter, không biết có ứng dụng nào tương tự ở Việt Nam chưa? Còn những ứng dụng 2.0 mà bạn không thể thiếu là gì?

10 năm với Internet

Tổng hợp, Việt Nam November 30th, 2007


Chúng ta vừa kỷ niệm 10 năm ngày kết nối Internet và cùng với nó là sự thay đổi lớn lao trong xã hội Việt Nam. Đây là những hồi ức và suy nghĩ của tôi sau gần 10 năm trên Net.

Những ngày chập chững (1997 - 1998)

Không lâu sau khi Việt Nam kết nối Internet, tôi có dịp lần đầu tiên vào Net tại Đại học Bách Khoa TP.HCM. Đây là nơi duy nhất tôi có thể truy cập Internet với giá chỉ đúng bằng tiền mướn máy tính ở ngoài (khoàng 2000đ/h). Khi đó thậm chí tôi chưa biết tới Google — dịch vụ tìm kiếm thống trị là Yahoo bên cạnh đó là nhiều tên tuổi khác mà đến giờ này đã trở thành khá xa lạ với phần lớn các bạn như AltaVista, Lycos, WebCrawler… Đây là thời kỳ bắt đầu bùng nổ của các dot-com. Các dịch vụ web mọc lên như nấm tìm đủ mọi cách để lôi kéo khách hàng đăng ký vào web của mình như quảng cáo, dội bom thư… Nhân viên của các công ty Internet làm việc như điên với hy vọng công ty mình sẽ có ngày “lên sàn” (IPO) và sẽ trở thành triệu phú sau một đêm.

Điều bực mình nhất với tôi lúc ấy là hộp thư của Yahoo!Mail chỉ cho có 2 MB và nếu không truy cập vào đó trong 3 tháng nó sẽ thẳng tay xóa sổ tài khoản của bạn. Tôi ít nhất cũng mất vài tài khoản với những tên khá đẹp như hongquang@yahoo.com… Các dịch vụ mail khác cũng có những điều kiện ngặt nghèo không kém, cái rộng rãi nhất cũng chỉ cho bạn hộp thư 8 MB nhưng để đăng ký vào các dịch vụ này thì bạn sẽ phải là người rất kiên nhẫn. Triết lý của các công ty Internet thời đó là càng thu thập được nhiều thông tin của người dùng càng tốt (cái này chắc là lấy ý tưởng từ marketing của FMCG). Thế là mỗi lần đăng ký bất cứ một dịch vụ nào bạn cũng phải điền đủ thứ thông tin gia phả vào một (hay nhiều) biểu mẫu dài dằng dặc. Quả là cơn ác mộng của kỷ nguyên web 1.0!

netscape1_1.jpg

Trình duyệt Netscape Navigator là mặc định, còn rất ít người dùng Internet Explorer. Mạng chậm khủng khiếp, thường phải mất một vài phút để truy cập vào được một trang web nếu may mắn kết nối không bị đứt vô thời hạn. Nhưng niềm hạnh phúc được nhìn ra thế giới bù đắp cho tất cả mặc dù web lúc đó còn khá hỗn loạn, để tìm ra được đủ thông tin bạn thường cần những tool giúp sục sạo vào 10 search engine khác nhau củng lúc. Tôi vẫn nhớ mình đã làm bài luận về chính sách tiền tệ với tài liệu thu thập từ Internet (quá oai!) trong đó có bài viết của một cựu cục trưởng Cục dự trữ liên bang Mỹ. Một trong những vấn đề ông kinh nghiệm có đại ý là “Chính sách tiền tệ có ảnh hưởng tới nền kinh tế với tốc độ chậm nên phải có sự nhạy cảm để dự báo trước được các vấn đề như lạm phát. Còn khi nó đã xảy ra rồi mới điều chỉnh chính sách thì đã quá muộn.” Nhìn tình hình lạm phát, giá cả tăng vọt ở nước ta như hiện nay thì chẳng biết có ai trong những người làm chính sách tiền tệ của chúng ta đọc bài học đã có trên Net từ 10 năm trước này không?

Thời của Dial-up (1999 - 2002)

Những năm sau tôi đã có thể truy cập web ở nhà qua kết nối dial-up. Tuy nhiên, đó là một sự xa xỉ vì giá cước trên trời, muốn tiết kiệm tiền tôi thường phải thức đêm để được giảm giá hay miễn phí cước truy cập. Thú thực những năm 1999 - 2002 tôi không hứng thú với Internet lắm một phần vì sự sụp đổ của dot-com và phần khác vì đường truy cập quá chậm để có thể thực sự làm được gì có ích trên Net.

Đây cũng là thời kỳ mà Netscape bị Internet Explorer đánh bại bằng chiêu bài “miễn phí và tích hợp”. Windows 98/XP và bộ Office làm mưa làm gió với vị thế gần như tuyệt đối trên desktop. Các dot-com rơi rụng gần hết và bạn có thể tìm mọi thứ trên Net bằng Google.

Công việc chủ yếu khi nối mạng của tôi là để tìm và download các phần mềm. Quá bực mình với sự chậm chạp của dial-up tôi đã viết một bài về cách tối ưu hóa modem và tăng tốc download, lướt web đăng trên diễn dàn của VNN — bài viết này sau đó được đăng lại tại website của anh Le Hoan (và tại nhiều trang web khác), nó trở nên nổi tiếng đến mức cho đến gần đây tôi vẫn còn nhận được mail hỏi về cách tối ưu hoá modem :)

Trở lại với Net (2003 - 2007)

Năm 2003, trảo lưu chat chít bắt đầu nở rộ cùng với sự xuất hiện của băng thông rộng ADSL. Tôi cảm thấy rất hứng khởi và tò mò không hiểu công nghệ nào giúp việc truyền thông điệp qua các mạng chat nhanh với tốc độ gần thời gian thực đến thế. Lúc này Yahoo!Chat còn chưa cho phép gõ tiếng Việt (cả Unicode và các font nội địa) và tất nhiên phải viết message kiểu không dấu hay kiểu VIQR trông rất loằng ngoằng khó đọc.

Thế là, một lần nữa bức xúc quá, tôi ngồi xuống viết ứng dụng chat có tên OlaalO!Chat dành riêng cho người Việt Nam. OlaalO!Chat dùng giao thức Jabber (giao thức này hiện đang được Google dùng trong GTalk) và viết trên .Net. Nó có khá nhiều tính năng vượt trội so với Yahoo!Chat lúc ấy, đặc biệt nó cho phép bạn gởi thông điệp bằng bất kỳ font chữ nào bạn có (các bạn có thể xem bài giới thiệu trên Echip và trên trang web của OlaalO!Chat). Nhưng OlaalO!Chat không cất cánh như tôi mong muốn (mặc dù đã thu hút được vài ngàn đăng ký) do hạn chế cả về hạ tầng lẫn marketing nên không thể tạo ra network effect; ngoài ra Yahoo!Chat đã trở nên quá lớn để bị thay thế. Cuối cùng câu hỏi đặt ra với một mạng chat là “Bạn đăng ký vào một mạng chat để làm gì khi mà tất cả bạn bè mình ở một mạng khác?” Đây cũng vẫn là câu hỏi dành cho Zing Chat hôm nay.

mainwin_fuctions_vi.png

chat_win_vi.png

Năm 2004, việc làm OlaalO!Chat bất ngờ mang lại cho tôi một sự chuyển hướng khác: từ bỏ làm kinh doanh, chuyển qua làm IT. Cuối cùng tôi muốn làm cái gì mình thực sự thích thú và tôi đã không phải hối hận vì quyết định này.

Năm 2005, tôi bắt đầu biết tới web 2.0 và thường xuyên vào TechCrunch để xem ứng dụng web nào sẽ là “the next big thing”.

Năm 2006, lấy cảm hứng từ bài viết của javaeater trên JavaVietnam.org, blog “Web 2.0 - Vietnam” ra đời.

Năm 2007, nhiều dự định, tính toán… nhưng chắc chắn tôi sẽ tiếp tục đi cùng với web 2.0.

Tổng kết

Kể từ khi ngắm nhìn bánh lái của thuyền trưởng Netscape Navigator với một cảm giác thật “vĩ đại” vì mình đã được vào Internet đến khi hòa mình vào cuộc cách mạng Web 2.0 là một chặng đường dài với nhiều thay đổi trong cuộc đời. Cuối cùng tôi lại trở về với Internet và hy vọng sẽ làm được gì đó trên Net và cho Net trong 10 năm tiếp theo. Không rõ đây là định mệnh hay duyện nợ nhưng tôi muốn nói lời cảm ơn với Internet và những người đã đưa Internet vào Việt Nam.

Vài dòng cảm xúc chia sẻ cùng các bạn!

Web Design 2.0: Xu Hướng Mới

Thiết Kế, Tổng hợp November 26th, 2007


Đã từ khá lâu khi những trang Web 2.0 dùng các hình khối có góc tròn (rounded-corner) và những đường cong như một tiêu chuẩn trên giao diện. Nhưng những xu thế mới trong thiết kế trở về với những đường thẳng có vẻ đang được ưa chuộng.

Một số website tiêu biểu

Trước hết chúng ta hãy xem một số trang chủ mà chắc cũng giống như tôi các bạn sẽ phải thốt lên “Oh, cool!”. Đây là những website tiêu biểu cho xu hướng thiết kế mới hiện nay.

1. Shoeboxed.com

shoeboxed.com là một trang web giúp bạn theo dõi các hóa đơn mua hàng và chia sẻ việc mua sắm của mình với bạn bè. Dịch vụ này có vẻ được ưa chuộng ở phương Tây vì họ rất “tính toán” trong việc mua bán.

Bảng màu chính:

color_shoeboxed.jpg

2. Wishlistr.com

Có bao giờ bạn cảm thấy lúng túng khi đi mua quà mừng thôi nôi, sinh nhật hay tân gia một ai đó vì chẳng biết “thân chủ” muốn cái gì? Với tính thực dụng cố hữu, người phương Tây thường tạo ra một “Wish List” liệt kê danh sách những thứ mình mong muốn; nhìn vào danh sách này bạn sẽ biết chắc mình nên mua gì. Nhưng sẽ ra sao nếu có hai hay nhiều người hơn cùng mua một món quà? Dịch vụ web wishlistr.com sẽ giúp bạn tìm ra giải pháp. (Ở Việt Nam thì hơi khác, trong đa số trường hợp chúng ta đều có thể dùng… phong bì :) ).

3. Church Plant Media

churchplantmedia.com là một dịch vụ CMS (content management system). Nếu bạn muốn tạo ra một cool website tương tự như họ thì đây là địa chỉ nên tìm đến.

Bảng màu chính:

color_churchplant.jpg

4. Corking Design

corkingdesign.co.uk là một công ty thiết kế web chuyên nghiệp. Tất nhiên website của họ phải thể hiện điều đó.

Bảng màu chính:

color_corking.jpg

5. Revolver

Revolver là trang web giới thiệu một công cụ cùng tên giúp bạn dễ dàng thay đổi hình nền hay tạo các showcase hình trên trang web của mình.

Bảng màu chính:

color_revolver.jpg

6. YikeSite

YlikeSite là một CMS khác nhưng chức năng đơn giản hơn Church Plant Media, chủ yếu giúp bạn tạo ra các website tĩnh giới thiệu công ty/dịch vụ của mình.

Bảng màu chính:

color_yikesite.jpg

Một số website khác:

Blogadda.com
blogadda_screenshot.jpg

Dibusoft
dibusoft_screenshot.jpg

Enrichment
enrichment_screenshot.jpg

HyperPixel Design
hyperpixel_screenshot.jpg

NetNova
netnova_screenshot.jpg

Studio3K
studio3k_screenshot.jpg

Xu hướng thiết kế

Chúng ta dễ dàng nhận thấy thiết kế layout cùa các trang web trên dùng chủ yếu là các dải màu thẳng kéo dài hết màn hình. Các phần của trang web được phân cách bằng các dải màu sắc tách biệt chứ không dùng các đường biên (border). Màu nền đậm (hay nổi hơn) ở phía trên và nhạt dần (hay chìm hơn) ở các phần dưới, tùy theo nội dung mà trang web muốn nhấn mạnh.

Ở phần header, chúng ta thường chỉ thấy logo trang web và menu định hướng đơn giản, làm cho người dùng chú ý hơn tới phần nội dung phía dưới. Các biểu tượng sinh động, rõ ràng giúp ta rất dễ nắm bắt các nội dung, chức năng quan trọng nhất mà trong web cung cấp. Chúng ta không thấy có hình người nào trong các trang web này mà thay vào đó là các hoạt hình khiến người dùng có cảm giác dịch vụ trang web cung cấp rất dễ sử dụng.

catoons.jpg

Ngoài ra các biểu tượng (icons and badges) cũng giúp nhấn mạnh các chức năng mà website cung cấp.

icons-badges.jpg

Menu định hướng của các trang web này rất rõ ràng, ít mục và không có nhiều tầng giúp cho người dùng không bi lạc vào mê cung các mục menu cha, con, cháu chắt… mà có thể đến nơi cần tới chỉ với một cú nhấp.
navigation-bar.jpg

Nhận xét chung

Khỏi cần phải ca ngợi về độ chuyên nghiệp mà các nhà thiết kế thế hệ 2.0 đã đạt tới, ưu tiên hàng đầu cho một trang web hiện nay là giúp người dùng cảm thấy dễ nắm bắt, dễ sử dụng các chức năng mà dịch vụ web đó cung cấp. Việc sử dụng đúng màu sắc, biểu tượng là cả một nghệ thuật, nó nói lên trình độ của nhà thiết kế nhưng quan trọng hơn là nó làm nổi bật trọng tâm của trang web.

Cách đây hơn một năm trong một bài viết khác tôi đã đề cập tới những yếu tố căn bản của design 2.0 như sử dụng div layout, CSS, XHTML… Tôi có thể nhận thấy hầu hết các trang web 2.0 của Việt Nam đã đi theo xu hướng thiết kế này, kết quả là chúng ta có những giao diện thanh thoát hơn, dễ định hướng hơn. Nhưng cũng phải nói là không có nhiều website đạt tới trình độ hoàn hảo như các trang web mà chúng ta vừa điểm qua. Điều dễ nhận biết là vai trò của designer trong quyết định bố cục các trang web tại Việt Nam không lớn và họ thường phải thỏa hiệp với xu hướng bày tất cả ra mặt tiền của ban lãnh đạo. Có vẻ như chúng ta còn phải học hỏi nhiều từ các đồng nghiệp phương Tây.

(Theo StyleIgnite)