Web 2.0 Vietnam Logo

Từ Dịch Vụ Web… Tới Nền Tảng Web

Facebook, Nhận định October 17th, 2007


How Microsoft Lost the API War” (2004) là một trong những bài viết sâu sắc nhất nhất tôi đã từng đọc dự báo sự ra đời của web 2.0 ngày nay. Nhưng web không dừng lại ở API mà đã phát triển thành một nền tảng (platform). Chúng ta hãy điểm qua những gì đang diễn ra trên cuộc chiến nóng bỏng này.

Social Network
Nhiều người tin rằng ngày Facebook tuyên bố mở cửa nền tảng cùa mình cho các nhà phát triển xây dựng các ứng dụng trên đó là một ngày lịch sử. Vì sao? Có hai lý do chính:

  1. Facebook là một trong những mạng xã hội thành công nhất cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Đưa ứng dụng lên Facebook nghĩa là bạn có tiềm năng tiếp cận trực tiếp với hơn 20 triệu người dùng. Với đa số ứng dụng web thì chỉ cần có 1/20 số người dùng đó cũng đã là thành công lớn.

  2. Khác với các công ty như Google hay Yahoo, Facebook không chỉ đưa ra các API (application programming interface) mà họ mở gần như toàn bộ nền tảng của mình cho các nhà phát triển.

Một ứng dụng được phát triển trên nền tảng của Facebook sẽ có tất cả những tính năng tuyệt vời của mạng xã hội này, nổi bật nhất là tính tự lan truyền: khi một người trong mạng dùng ứng dụng thì đồng thời (trong đa số trường hợp) anh ta cũng tự động giới thiệu nó cho bạn bè của mình cùng sử dụng. Kết quả là số người dùng sẽ tăng lên theo cấp số nhân nếu đó thực sự là ứng dụng hữu ích. Người dùng còn có thể chia sẻ, cùng bình luận hay cùng làm việc trên ứng dụng này thông qua các giao thức của Facebook. Ứng dụng cũng được thừa hưởng luôn giao diện đơn giản và thân thiện của Facebook, giống như một ứng dụng trên Windows thì mặc nhiên sẽ có cửa sổ với các nút phóng to, thu nhỏ và đóng ứng dụng. Chính vì thế nhiều người coi đây là một “hệ điều hành” trên web.

Chỉ trong vòng 4 tháng tính đến tháng 8 năm 2007 đã có hơn 2300 ứng dụng(!) được xây dựng trên nền của Facebook và một số thu được thành công nhanh chóng (bạn có thể tìm hiểu 30 ứng dụng hàng đầu trong bài viết này của Mashable). Ứng dụng “for Facebook” đang trở thành một “cơn sốt vàng” (gold rush) mà rất nhiều công ty muốn tham gia trước khi quá trễ. Điều này gợi cho tôi nhớ lại thời Windows 3.x ra đời vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước và sự bùng nổ của một loạt ứng dụng “for Windows” như FoxPro for Windows, WordPerfect for Windows… nhưng ở mức độ nhanh và cao hơn rất nhiều.

Trước thành công của Facebook, sau đó MySpace tuyên bố sẽ đưa ra API phát triển ứng dụng cho mạng xã hội lớn nhất này. Tiếp theo, Google cũng có kế hoạch sẽ mở cửa mạng xã hội Orkut của mình và mạnh miệng hơn họ còn tuyên bố nền tảng của mình sẽ mở 100% thay vì chỉ 95% như Facebook (thú thực, mạng Orkut này không gây ấn tượng gì với tôi lắm, đến nay nó mới có khoảng 1,8 triệu đăng ký, đa số là tại Châu Âu). Và gần đây, Microsoft nói sẽ mở một số API chủ chốt cho các nhà phát triển ứng dụng trên Windows Live của họ (tất nhiên, chiến lược của MySpace, Microsoft, Google khác với Facebook, bạn có thể xem thêm ở bài phân tích này trên ZNet).

Không chỉ các công ty lớn mà hầu hết các công ty web 2.0 khác cũng bắt đầu phải suy nghĩ tới việc tự định nghĩa lại mình. Facebook đã cho thấy rằng các “dịch vụ web” đang đi đến cuối con đường của mình và sẽ phải nhường chỗ cho các nền tảng web.

Nếu hôm nay bạn hỏi tôi Web 3.0 là gì thì tôi có một dự đoán: Đó sẽ là sự liên thông giữa các nền tảng web 2.0 để tạo nên một nền tảng web mới.

(nếu dự đoán trên đúng thì xin các bạn mua giùm cái áo thung này nhé :) )

Web 3.0 T-Shirt

Vietnam Idol: Ca nhạc 2.0?

Nhận định, Việt Nam, Web 2.0 Blog September 30th, 2007


Khi tôi viết những dòng này, cuộc thi “Vietnam Idol” chỉ còn một vài ngày nữa là kết thúc. Tôi đã tự hỏi: “Tại sao một chương trình ca nhạc lại có thể thành công ở rất nhiều quốc gia có nền văn hóa và trình độ phát triển khác nhau trong những năm gần đây?”. Cuối cùng tôi phát hiện ra rằng đó chính là tinh thần của Web 2.0 trong lĩnh vực ca nhạc.

Để trả lời cho câu hỏi trên trước hết tôi muốn thử tìm hiểu xem:

  • Đây có phải là một cuộc chơi công bằng để chọn ra người tài năng nhất trong hàng ngàn thí sinh?
  • Vai trò của ban giám khảo thế nào?
  • Cuộc chơi này có những vấn đề về mặt kỹ thuật tổ chức (như một số bình luận trên báo chí) hay không?
  • Và cuối cùng, bản chất của cuộc chơi này là gì?

Chúng ta đều biết đây là cuộc chơi dành cho những người không chuyên nghiệp, nếu bạn có một giọng hát hay (hay bạn tưởng là như vậy) thì bạn đều có thể tham gia tuyển chọn. Ở Việt Nam, đây không phải là một điều mới vì giải “Tiếng Hát Truyền Hình” cũng không yêu cầu bạn phải có chứng chỉ hay bằng cấp gì. Suy cho cùng, ngôi sao ca nhạc không nhất thiết phải học ở nhạc viện ra. Nhưng điều thú vị là cuộc chơi này gạt hẳn dân “chuyên nghiệp” ra ngoài và nó trở thành cuộc chơi của đại chúng, nó đảm bảo sự bình đẳng về mặt xuất phát điểm cho các thí sinh ở mức tương đối nào đó. Sẽ không có chuyện một ca sĩ học nhạc viện ra và đã có chút ít tên tuổi cạnh tranh với các thí sinh amateur.

Trong cuộc thi này, vai trò của ban giám khảo càng về cuối càng mờ nhạt. Lần đầu tiên người xem được trao toàn quyền quyết định chọn ai là thần tượng của mình và một khi quyền lực nằm ở phía những người thưởng thức thì kết quả có thể hoàn toàn khác với những dự đoán của các chuyên gia. Tôi cảm nhận thấy càng ngày ban giám khảo càng cảm thấy khó dung hòa giữa thị hiếu của khán giả với những nhận định chủ quan của mình. Họ cảm thấy “đám đông” ở dưới kia vừa đúng, vừa không đúng và cuối cùng là cảm giác bất lực khi phải đưa ra những nhận xét chẳng “ăn nhập” gì với ý kiến “đám đông” đó. Có lẽ đó là sức ép mà ban đầu ban giám khảo đã không thể hình dung ra (cá nhân tôi tôn trọng ban giám khảo đặc biệt là nhạc sĩ Tuấn Khanh, anh mới “xuất bản” một album mà mọi người có thể nghe miễn phí trên Internet — với những ca khúc chứa đầy trăn trở về cuộc sống và thời cuộc: Bụi Đường Ca).

Trong những vòng cuối của Vietnam Idol, một vấn đề kỹ thuật nổi lên là liệu việc một người có thể nhắn nhiều tin nhắn cho “thần tượng” cùa mình có ảnh hưởng tới kết quả bầu chọn? Về mặt thống kê, nếu chỉ có rất ít người bình chọn thì có khả năng một nhóm người thân của ai đó sẽ gởi nhiều tin nhắn và làm lệch lạc kết quả, nhưng khi số lượng tin nhắn lên tới hàng triệu thì những cố gắng kiểu như thế không có hiệu quả. Hơn nữa, khi một nhóm người gởi nhiều tin nhắn bầu cho thí sinh này thì cũng có nhóm khác gởi nhiều tin bầu chọn thí sinh khác và kết quả sẽ được cân bằng. Ngược lại thì hệ thống tổ chức của các cuộc thi Idol sẽ sụp đổ và nó đã không có mặt ở Việt Nam hôm nay.

Vậy có phải những người vào vòng cuối cùng là những người hát hay hơn những người còn lại? KHÔNG HẰN VẬY. Nhiều người (trong đó có ban giám khảo) không cho rằng nhưng người cuối cùng là xuất sắc nhất và họ ngạc nhiên khi những người hát hay nhất lại bị loại. Thậm chí một số nhạc sĩ nổi tiếng còn cho rằng khán giả Việt Nam là “kém thị hiếu”, không đủ trình độ thưởng thức âm nhạc… Tôi thực sự buồn khi đọc những nhận xét kiểu như vậy, nó thể hiện sự tự ti dân tộc và trên hết là coi thường những người thưởng thức mà nhẽ ra phải là mục tiêu của âm nhạc. Không rõ trình độ thưởng thức của khán giả các nước có tổ chức Idol khác như Indonesia, Ấn Độ… có hơn Việt Nam hay không nhưng chắc mỗi người chúng ta đều không muốn bị mặc định cho là kém hiểu biết.

Nhưng rất có thể khi đưa ra những nhận xét như vậy họ chưa hiểu bản chất thực sự của cuộc chơi này. Bề ngoài nó có vẻ như cuộc tuyển chọn giọng hát hay như bao cuộc thi khác, nhưng thực chất đây là cuộc thi giành cảm tình của khán giả. Thử nhìn Ngọc Ánh, anh ta không phải là người hát hay nhất (ban giám khảo ít khi thực sự đánh giá cao Ngọc Ánh), anh cũng không cao to đẹp trai và cũng không phải là người miền Nam. Cứ theo logic thông thường có thể anh ta đã bị loại từ mấy vòng đầu và thực tế là Ngọc Anh luôn có nguy cơ bị loại ở các vòng đầu. Nhưng càng ngày vị trí của Ngọc Ánh càng vững chắc và anh thẳng tiến tới vòng cuối cùng trong sự mến mộ của các fan thuộc nhiều thành phần khác nhau. Điểm khác biệt lớn nhất của Ngọc Ánh với các thí sinh còn lại chính là sự bất lợi của anh. Anh (vô tình) xây dựng được cho mình hình tượng của một chàng trai tỉnh lẻ — mộc mạc, chân chất — đang khát khao tìm kiếm cơ hội trong một thành phố lớn. Khi ban giám khảo nói rằng Ánh là người “cô đơn” trong cuộc thi này (lời của nhạc sĩ Tuấn Khanh) thì phản ứng tự nhiên của khán giả là muốn đồng hành, nâng đỡ anh.

Vì thế, tôi cho rằng nếu ai trở thành Idol thì đó sẽ là “thần tượng” đúng nghĩa, đơn giản do đây là người giành được cảm tình nhiều nhất của khán giả. Lý lẽ dẫn tới thành công của cuộc thi này như vậy: khán giả là người luôn luôn đúng. Ai sẽ là người bỏ tiền xem biểu diễn, ai sẽ là người mua đĩa nhạc? Nếu người hát hay nhất theo một khuôn mẫu luôn trở thành sao thì nhiều ngôi sao ca nhạc hiện nay có lẽ giờ này đang trình diễn phục vụ một đám cưới náo đó. Không, khán giả có những lý lẽ riêng của họ và tất nhiên họ đúng!

Tổng kết lại, có thể thấy cuộc thi Vietnam Idol (và các cuộc thi Idol nói chung) có 3 điểm dẫn tới thành công:

  1. Tính phổ thông: Thí sinh tham gia cuộc thi này là không chuyên và được tuyển chọn từ nhiều địa phương khác nhau, tạo điều kiện cho tất cả các thành phần tham gia. Có thể có nhiều “pha” biểu diễn thật tức cười nhưng đây chính là điểm mà các cuộc thi khác không thể có được.
  2. Tính tương tác: Việc loại từng thí sinh trực tiếp thông qua hệ thống nhắn tin làm cho cuộc thi ngày càng gay cấn, hấp dẫn. Nó đem lại cảm xúc trái ngược cho mỗi người nhưng quan trọng là mọi người đều cảm thấy mình đang tham gia vào chứ không chỉ chứng kiến thụ động như các cuộc thi khác.
  3. Tính cộng đồng: Thí sinh được khán giả bầu chọn trực tiếp; đây là một điều tuyệt vời và chỉ có trong thời đại viễn thông di động phổ biến như hiện nay mới thực hiện đựơc.

Đến đây, tôi đã giật mình khi nhận thấy những đặc thù của Vietnam Idol thật là giống với Web 2.0, đó là thứ ca nhạc hướng tới khán giả, do khán giả quyết định mình muốn gì, không phải hướng tới các chuyên gia về âm học hay thanh nhạc. Vây nên tôi có thể mạo muội gọi cuộc thi này là “Ca Nhạc 2.0″ được chăng?

Kỷ nguyên của Microsoft đã kết thúc với Vista

Microsoft, Nhận định, Web 2.0 Blog February 1st, 2007


Sự xuất hiện lặng lẽ của Vista là dấu hiệu kết thúc của kỷ nguyên mang tên Microsoft.

Tôi vẫn nhớ năm 1995 ấy, khi tôi đang dùng Windows 3.11 hàng ngày cho công việc. Trên cái máy PC 386 với 4MB RAM, phần mềm chính viết bằng FoxPro vẫn chạy trên nền DOS, còn Word, Excel là cả một cuộc cách mạng so với VietRes hay Quatro. Nói chung tại thời điểm ấy bạn gần như không thể vừa gõ văn bản vừa cho in ấn vì Windows 3.1 không hỗ trợ đa nhiệm thực… Oh, cái ngày xa xưa ấy!

Năm 1995, Larry Page và Sergey Brin, hai đồng sáng lập của Google, vừa mới tốt nghiệp đại học còn hãng Apple đang phải cắt giảm hàng ngàn nhân sự và suýt bị mua lại.

Năm 1995, tôi có một ước mơ là được sở hữu một cái PC 486 với 8MB RAM để có thể cài Windows 95, được nhấp vào nút “Start” và để coi những điều kỳ diệu mà Bill Gates huyền thoại đã chỉ ra cho thế giới: một hệ điều hành đa nhiệm, thân thiện và cò những tính năng vượt qua tất cả những gì người ta đã hình dung.

Windows 95 Launch Event in Redmond

Phía bên kia đại dương, trước 2000 đại biểu “sừng sỏ” nhất của ngành công nghiệp máy tính, 500 nhà báo và 70.000 người theo dõi trực tiếp qua truyến hình vệ tinh, Bill Gates - đứng trước màn hình khổng lồ với là cờ Windows bay phấp phớp trong giai điệu không thể nào quên của bài “Start me up” - đã đưa thế giới vào kỷ nguyên của PC. Một kỷ nguyên mà mỗi cử động của Microsoft được cả thế giới rõi theo, mọi động thái của Microsoft đều làm các đối thủ run sợ. Khi Microsoft tiến vào bất kỳ lĩnh vực nào thì mọi người đều tự hỏi “có nên tiếp tục đi săn trên đất của nhà vua không?”

Sáu năm sau, 2001, Windows XP được giới thiệu, nó không là một sự kiện “vĩ đại” như Windows 95 nhưng cũng không có ai có thể nghi ngờ về sức mạnh của Microsoft: Windows được cài đặt trên hơn 90% máy tính bán ra, bộ Office là tiêu chuẩn cho mọi văn phòng.

Thời gian qua đi thật nhanh, sáu năm nữa đã lại qua, Microsoft đã mang tới cho chúng ta hệ điều hành thế hệ thứ tư của mình: Vista. Vẫn cùng một kiểu tiếp thị với các bài viết giới thiệu ồ ạt trên các tờ tạp chí như dạng PC World, nhưng “hệ điều hành bảo mật nhất” này chẳng còn là tâm điểm chú ý của thế giới nữa. Chẳng có hàng dài những người mua chờ từ đêm hôm trước, chẳng có hàng ngàn thính giả lắng nghe Bill phát biểu để định hình ngành công nghệ thông tin tương lai. Vista xuất hiện thật lặng lẽ so với các anh em của mình.

Nó nói lên rằng ảnh hưởng của Microsoft lên ngành CNTT đã yếu đi rất nhiều cùng với sự lớn mạnh của Google và các công ty web 2.0 trên Internet, cùng với Apple trên các thiết bị nhỏ như iPod, iPhone… Nó báo hiệu sự kết thúc của kỷ nguyên Microsoft, kỷ nguyên của các phần mềm đóng gói khổng lồ được cài trên máy của khách hàng. Chính Microsoft cũng thừa nhận Vista sẽ là hệ điều hành “all-in-one” cuối cùng của hãng, sau đó họ sẽ chỉ phát triển các HĐH chuyên biệt cho các mục đích khác nhau.

Kẻ thù lớn nhất của bạn là chính bạn - câu nói đó thật đúng với Microsoft. Trên thế thượng phong gần như tuyệt đối, Microsoft đã quá tập trung vào Windows và Office, hai con bò sữa về lợi nhuận, mà không có một tầm nhìn xa hơn về một thế giới cộng tác trên Internet. Họ đã biến mình thành một công ty bị chán ghét nhất vì khả năng triệt tiêu không thương tiếc các đối thủ và thủ tiêu sự sáng tạo trong CNTT cả một thời gian dài. Làn sóng Web 2.0 chỉ là một trong những câu trả lời cho thấy Microsoft không thể kiểm soát được mọi thứ. Kể từ khi tiêu diệt được Netscape, Microsoft đã gần như bỏ qua Internet vì nó không mang lại cho họ lợi nhuận và web đã phát triển mà không cần đến Microsoft. Cảm ơn Bill, nếu không có lẽ trên mỗi trang web hôm nay đã có một thanh toolbar office hay nút “Start” rồi.

Cuối cùng có lẽ giấc mơ của Bill Gates về các phần mềm mà bất kỳ ai cũng có thể sử dụng và ở bất cứ đâu sẽ thành hiện thực, nhưng trớ trêu thay nó sẽ không ở trên Windows mà ở trên Web!

Những Web 2.0 tốt nhất năm 2006

Nhận định, Tổng hợp, Web 2.0 Blog January 4th, 2007


Một năm trôi qua thật nhanh, tôi còn nhớ danh sách các web 2.0 tốt nhất năm 2005 của Dion Hinchcliffe đã nhận được rất nhiều bình luận. Còn hôm nay chúng ta đã có danh sách các web 2.0 tốt nhất năm 2006 của ông.

1. Mạng xã hội (social network)

 

MySpace.com

MySpace won
MySpace được cho là mạng xã hội thành công nhất trong năm 2006. Mặc dù có nhiều kêu ca về chất lượng nội dung và thiếu an toàn, MySpace vẫn là mạng xã hội được ưa chuộng số một vì tính dễ sử dụng và khả năng tùy biến cao. Tôi nhớ rằng, trong “Web 2.0 Summit” một cậu bé khách mời đã phát biểu rằng: Mỗi buổi sáng, khi mở MySpace giống như mở một hộp quà Nô-en vì cậu ta luôn hồi hộp chờ đợi bạn bè mới vào “không gian” của mình…

Các công ty cũng bắt đầu sử dụng MySpace làm công cụ quảng bá sản phẩm của mình. Hollywood và nhiều công ty khác dùng MySpace để giới thiệu phim và các chiến dịch khuyến mãi. Một số mạng xã hội khác cũng đang hoạt động rất tốt nhưng còn thua xa MySpace về số lượng.

Các mạng xã hội thành công khác:

Bebo social network siteFacebook VOX Logo Xuqa MyBlogLog

 

2. Trang chủ tùy biến (start pages)

Netvibes

 

Trong lĩnh vực này, nhận xét của Dion Hinchcliffe khá giống với tôi: Netvibes hiện đang là trang chủ mặc định trên browser của tôi. Năm 2006 chứng kiến rất nhiều web 2.0 ra đời trong lĩnh vực này, đa số dùng Ajax và Flash, nhưng không có nhiều dịch vụ phát triển nhanh ngoại trừ Netvibes. Có 3 lý do chính:

  1. Netvibes có một giao diện sáng sủa, dễ sử dụng.
  2. Netvibes có API và hệ thống eco-system mở giúp cho các nhà phát triển có thể thêm vào các module riêng (hiện đã có hơn 500 module giúp bạn từ việc đọc mail đến chuyển dạng tài liệu sang PDF…).
  3. Netvibes hỗ trợ nhiều ngôn ngữ khác nhau (trong đó có cả tiếng Việt của chúng ta!)

Điểm duy nhất tôi không thực sự hài lòng là tốc độ tải lần đầu của Netvibes ngày càng chậm hơn. Có thể đó là do hệ thống có quá nhiều Javascript?

Mặc dù Live.com của Microsoft có nhiều lượt truy cập hơn Netvibes nhưng đây là kết quả của hệ thống tìm kiếm và các khác hàng truyền thống của Microsoft.

Các trang chủ tùy biến tốt khác:

Pageflakes Live.com Goowy

3. Ghi nhớ địa chỉ (social bookmarking)

StumbleUpon

Nổi lên trong năm nay là một dịch vụ khá xa lạ StumbleUpon, năm ngoái thậm chí dịch vụ này còn chưa được xét tới. Cá nhân tôi vẫn dùng del.icio.us thường xuyên nhưng theo Hinchcliffe, StumbleUpon có những ưu điểm nổi bật trong việc tìm kiếm. Nếu bạn cài toolbar của dịch vụ này trên browser của mình bạn có thể đáng giá, cho điểm (rate) các bài viết. Điều này giúp bạn dễ dàng tìm những người đồng quan điểm với mình và tìm ra những bài viết mới cùng chủ đề. StumbleUpon hiện có 1,7 triệu đăng ký và đang phát triển nhanh.

Các dịch vụ web 2.0 tốt khác:

del.icio.us Trailfire Magnolia Listible

4. Chia sẻ tin tức (peer production news)

 

Netscape

Netscape.com là người thắng cuộc trong năm nay! Về mặt số lượng truy cập thì Digg vẫn vượt lên rất xa so với các dịch vụ khác, Digg vẫn là lựa chọn hàng đầu khi bạn muốn xem các tin về công nghệ, đặc biệt là các tin ít phổ biến. Tuy nhiên, Netscape đảm bảo được hai yếu tố: chất lượng tin và tính dân chủ trong đánh giá chọn lựa. Các tin hàng đầu trên Netscape thường là các tin rất đáng đọc và các bình luận cũng rất hay.

Các dịch vụ chia sẻ tin tốt khác:

Digg Newsvine reddit

5. Chia sẻ đa truyền thông (social media sharing)

 

YouTube

YouTube là một hiện tượng trong năm 2006. Với 100 triệu lượt người xem và 65.000 video được tải lên mỗi ngày, YouTube là một trong những dịch vụ thành công hiếm thấy. Bạn có thể xem hầu hết mọi thứ bạn muốn trên YouTube; tính dễ sử dụng, hệ thống tag tiên tiến và khả năng nhúng video vào các trang web khác dễ dàng tạo thành môt tiêu chuẩn cho lĩnh vực này. Nếu năm 2005 là năm của chia sẻ hình ảnh thì rõ ràng 2006 là năm của video.

Các dịch vụ chia sẻ video tốt khác:

Uncutvideo Jumpcut Google Video Revver

6. Lưu trữ trực tuyến (online storage)

Amazon's S3 kết hợp với Jungle Disk

 

Năm 2006 cũng là năm có nhiều dịch vụ lưu trữ trực tuyến ra đời. Qua rồi cái thời bạn phải chật vật với khoảng không gian tí tẹo và tốc đô rùa bò của Yahoo!Briefcase. Hầu hết các dịch vụ lưu trữ trực tuyến đều cho phép bạn lưu hàng GB dữ liệu miễn phí hoặc với giá rất phải chăng. Vượt lên các đối thủ là dịch vụ S3 của Amazon kết hợp với Jungle Disk giúp bạn tích hợp nó vào Windows Explorer như một ổ đĩa. Ưu điểm của S3 là nhanh, bảo mật, rẻ và quan trong nhất là bạn không bao giờ lo mất dữ liệu vì tính năng back-up đa lớp của dịch vụ này.

Các dịch vụ lưu trữ trực tuyến tốt khác:

Omnidrive IBackup Allmydata

7. Ứng dụng văn phòng 2.0 (office suite 2.0)

Zoho Office Suite

Trong các bài viết trước, Web 2.0 Việt Nam đã có những nhận xét về các ứng dụng văn phòng trên nền tảng Web 2.0. Theo Hinchcliffe, Zoho là bộ ứng dụng văn phòng hoàn chỉnh nhất. Tôi không phản đối nhận xét này vì Zoho cung cấp một bộ các ứng dụng Office đúng nghĩa: soạn thảo văn bản, bảng tính, trình diễn, wiki, quản lý dự án, quản lý địa chỉ… Cả Google lẫn Microsoft vẫn tỏ ra khá chậm chạp trong việc đưa ra các ứng dụng office 2.0 mới mặc dù có thể họ sẽ làm tốt hơn theo các chiến lược riêng của mình.

Các bộ office 2.0 tốt khác:

ThinkFree Ajax13 Google Docs and Spreadsheets Foldera

8. Các dịch vụ khác

 

+ Chọn lọc blog (blog filter)

 

TechMeme

Nếu bạn muốn theo dõi chủ đề nào đang được bàn tán sôi nổi nhất trên web thì TechMeme là trang web bạn nên vào hàng ngày.

+ Nhạc cộng đồng (social music)

Pandora

 

Pandora là một ứng dụng một-trang (one-page) được phát triển trên OpenLaszo. Nó sẽ chơi liên tục các bản nhạc bạn yêu thích và cho bạn chọn các bản nhạc cũng “style”. Đây là nơi lý tưởng để tìm các bản nhạc mới và không ngạc nhiên khi có 2 triệu người đăng ký vào dịch vụ này.

+ Mạng xã hội nghề nghiệp (professional social network)

LinkedIn

 

LinkedIn là dịch vụ bạn nên đăng ký nếu đang đi làm. Nó là nơi lưu trữ các địa chỉ liên lạc của các đồng nghiệp, đối tác và cập nhật tự động khi có người chuyển công việc.

+ Công cụ phát triển web

 

Ruby on Rails

Ruby on Rails là cộng cụ phát triển web được đánh giá cao nhất trong năm 2006. Nó tạo nên một phương thức phát triển phần mềm mới và cho năng suất lao động cao hơn nhiều so với J2EE hay .Net. Trong năm 2007, đa số các ứng dụng Web 2.0 sẽ được làm trên ROR hay PHP. Don Hinchcliffe có bài viết riêng nói về ảnh hưởng của ROR trong việc phát triển web ở đây.

+ Công cụ Mashup

Datamashups

 

Năm 2006 đánh dấu sự trưởng thành của các dịch vụ mash-up (kết hợp nội dung từ nhiều nguồn). DataMashups.com cung cấp cho người dùng một công cụ tạo mashup cho riêng mình rất dễ dàng. Mặc dù đang trong giai đoạn phát triển đầu tiên đây là dịch vụ có nhiều hứa hẹn.

9. Bình luận của Web 2.0 Việt Nam

Don Hinchcliffe là một nhà phân tích chiến lược có uy tín của Web 2.0. Các đánh giá của ông dựa trên các tiêu chí về tính năng và khả năng phát triển của dịch vụ. Có thể có những đánh giá không trùng với nhận định của tôi và bạn nhưng rõ ràng đây là một dịp tốt để giới thiệu các dịch vụ Web 2.0 tốt nhất hiện nay. Chúc các bạn một năm 2007 vui vẻ và hạnh phúc!

Suy Nghĩ Từ Web 2.0 Summit

Căn bản, Nhận định, Web 2.0 Blog November 13th, 2006


Trong bài viết trước, Web 2.0 Việt Nam đã tổng hợp môt số chủ đề nổi bật trong “Hội nghị thượng đỉnh Web 2.0“. Nhưng đằng sau vẻ ngoài hào nhoáng của một sự kiện được chăm chút, được tiếp thị ồ ạt bởi các ông lớn trong ngành IT này là gì?

Photo of the hotel

Tổ chức trong một khách sạn sang trọng tại San Francisco (hình), với sự góp mặt của những nhân vật tai to mặt lớn từ những công ty mà chỉ nghe tới tên thôi bạn đã hình dung đến cả một thế lực: Google, Yahoo, Microsoft, AOL, Intel, Amazon… Và như để hòa hợp với những tên tuổi lớn này, cái tên “hội nghị web 2.0″ (web 2.0 conference) tầm thường năm xưa (2005) đã được đổi tên thành “hội nghị thượng định web 2.0″ (web 2.0 summit) cho năm nay. Quả thật, nếu tôi có cánh thì tôi sẵn sàng bay qua Hoa Kỳ để tham gia vào bữa đại tiệc web 2.0 này. Nhưng hãy khoan, nếu bạn là một khách mời thì ngoài việc kiểm tra lại hộ chiếu, bạn phải kiểm tra lần cuối xem bạn có đủ 3000 USD đề mua vé vào cửa không nhé…

Cuối cùng mọi bữa tiệc rồi cũng đến lúc tàn, khi đó mọi người đều cảm thấy thiếu một cái gì đó. Đâu rồi cái không khí hừng hực của năm 2005? Đâu rồi các nhóm phát triển web trình bày những ý tưởng “thay đổi thế giới ” của mình? Cuối cùng bạn thấy gì từ Google, Yahoo hay Microsoft ngoại trừ những cái họ đã làm hay sắp làm xong? Trong 13 dịch vụ web 2.0 mới (startups) được trình bày như chạy marathon thì cái nào là cái sẽ đem đến cuộc cách mạng trong web?

Không, “... bạn chẳng tìm thấy cái gì mới ở Web 2.0 Summit” là kết luận của GigaOM. Có lẽ, cái hội nghị này quá “đỉnh” cho những tư duy tầm thường. Nếu bạn đang định làm một YouTube thứ hai thì cũng chẳng ai quan tâm. Microsoft thì đang tự hỏi phải tích hợp cái web 2.0 vào bộ office thế nào mà khách hàng không kêu ca là quá mắc. Yahoo thì đang bận tìm xem hệ thống quảng cáo của mình co thể cạnh tranh với Google như thế nào. Còn Google đang chuẩn bị cho “the-next-big-thing” và sẽ chẳng hỏi han gì đến bạn trừ phi bạn có 50% thị phần tại Mỹ. Amazon đang hình dung ra mọt WebOS theo kiểu của mình, rồi tất cả sẽ dẫn đến các gian hàng của họ, happy shopping online!

13 dịch vụ web 2.0 mới có vẻ như những kẻ thừa thãi trong hội nghị thượng định này. Bạn sẽ nói gì trong 5 phút về dịch vụ của bạn? Nó cool hay nó hot? Nó có gì hay ho hay chỉ là một bản sao chép các ý tưởng? Quả là thật tầm thường khi đứng cạnh những gã khổng lồ về nguồn lực với thứ văn phong không thể lẫn được của các đại gia kiểu như “… dịch vụ của chúng tôi sẽ làm cho cuộc sống của 250 triệu người dùng nâng lên một tầm cao mới…

Web 2.0 đã chín muồi và các đại gia sẽ thu hoạch nó như một kịch bản cũ rích chăng? Tôi không tin điều này, nếu có một web 2.0 thì đó phải là web 2.0 cho mọi người. Nhìn lại một Blogger hay Wikipedia không hề có Ajax hay những “big thing” tương tự mà vẫn làm một cuộc cách mạng về web là vì sao? Đơn giản đó là một trang web mà ai cũng có thể tự làm được. Web 2.0 phải là như thế, bất kể về mặt kỹ thuật có thay đổi ra sao. Còn không chúng ta có thể chào mừng web 3.0 (xin xem thêm Welcome Web 3.0!) và bỏ lại web 2.0 cho các ông lớn kia “tự xử”.