Web 2.0 Vietnam Logo

Google+ vs Facebook: Mở và Đóng

Nhận định, Đánh giá July 13th, 2011


Thế giới luôn mong chờ những cuộc lật đổ vĩ đại, mong chờ những người anh hùng vô song đột ngột xuất hiện và chém bay đầu con quái vật đang thống trị thế giới này.

Có một con “quái vật” được biết dưới cái tên Facebook, sinh ra ở ngôi trường ĐH danh tiếng Harvard, dưới sự điều khiển của một cậu thanh niên có khuôn mặt hiền lành Mark Zuckerberg, đã tiến hành một cuộc xâm lăng tới toàn thế giới net trong 7 năm ròng – hơn 750 triệu người đã khuất phục và có vẻ như hiếm có công dân mạng nào chống cự được sức mạnh của nó.

Chính với Facebook, thế giới net đã bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ của kết nối và chia sẻ. Kẻ thống trị thời kỳ này có một lợi thế mà nhà vua trước kia không thể có là biết tường tận về tiểu sử từng người, và khủng khiếp hơn, biết được họ đang suy nghĩ gì. Thời kỳ của những công dân vô danh và sắp xếp thông tin của người hùng Google bị đe dọa nghiêm trọng vì lãnh địa Facebook hoàn toàn đóng cửa trước họ.

Nhận rõ nguy cơ đe dọa sự tồn vong của mình từ kẻ mới nổi Facebook, Google đã không tiếc công sức, tiền bạc hòng đẩy lùi bóng xanh của đội quân chữ F: từ việc chiêu mộ một đội quân khác như Orkut, tạo ra cỗ máy tinh vi hơn như Wave hay dùng chiến tranh du kích với Buzz. Nhưng do thiếu sự nghiên cứu và đầu tư kỹ càng, tất cả đều bị đánh tan như sóng xô vào đá. Không chấp nhận làm kẻ bại trận, Google lại âm thầm chuẩn bị một cỗ máy chiến tranh mới, và để tỏ rõ quyết tâm, họ cũng bầu một thống chế mới (Larry Page) chỉ huy trận đánh sinh tử này.

Rút kinh nghiệm từ các trận chiến trước, Google quyết định rằng cỗ máy mới không những phải có đầy đủ “đồ chơi” giống đối thủ như chia sẻ link, ảnh, video… mà còn được trang bị vũ khí tối tân hơn có tên như Hangout (video chat với nhiều người cùng lúc). Nó cũng tìm cách giúp người dùng “chia để trị” các mối quan hệ vốn phức tạp trong thế giới mạng bằng cách nhóm những người mà bạn cần chia sẻ vào các vòng tròn định trước (hay tự tạo). Google cũng hiểu rằng họ sẽ không có cơ hội nào nếu đối địch với kẻ thù bằng cách bắt chước mà phải tạo ra một thứ đối nghịch với nó, khắc chế được nó. Vậy nếu Facebook là một mạng đóng với các mối quan hệ bạn bè đối xứng thì mạng xã hội của Google sẽ (phải) là mạng mở với các quan hệ bất đối xứng. Google Plus (Google+) chính là cỗ máy mà chúng ta vừa nói tới, và chỉ nhìn cái tên bạn cũng có thể hiểu là Google đã coi MXH này là Google phiên bản tiếp theo, hy vọng nó sẽ kế thừa con đường thành công của cỗ máy tìm kiếm, trở thành sản phẩm cốt lõi của họ trong thời kỳ mới.

Người hùng Perceus lấy đầu quái vật Medusa

Vậy liệu Google+ có thể truất quyền thống trị của Facebook, tạo nên một cuộc lật đổ vĩ đại hay nó sẽ chỉ có thể chia đôi (hoặc ba) thiên hạ, hùng cứ một phương? Tệ hơn, có khi nào cuối cùng nó sẽ thất bại như mọi cố gắng trước kia của Google trong cuộc cạnh tranh MXH?

Mở tốt hay Đóng tốt?

Open vs Closed

Mạng xã hội mở không phải là phát kiến mới của Google+ mà Twitter, mạng chia sẻ thông tin 140 chữ lừng danh, mới là người tiên phong. Mô hình theo đuôi (follow) của Twitter tỏ ra hết sức hiệu quả với những người có nhu cầu truyền tin tới đại chúng. Nếu bạn theo đuôi ai, không nhất thiết phải được sự phê chuẩn của người ấy, mặc nhiên bạn sẽ xem được những gì người ấy chia sẻ và ngược lại. Bạn có thể có hàng triệu người khác theo đuôi và như thế mỗi khi bạn phát biểu điều gì thì hàng triệu người sẽ thấy được thông điệp của bạn. Trong những biến cố lớn, tốc độ phổ cập và lan truyền tin tức của Twitter tỏ ra vượt trội so với các cách truyền thông cổ điển. Điểm khác biệt lớn nhất của Twitter với Facebook, bỏ qua việc nó chỉ cho phép truyền đi 140 ký tự, là ở mối quan hệ giữa các thành viên trong mạng. Trong khi bạn bè ở Facebook luôn là hai chiều thì trong Twitter thậm chí không có khái niệm này một cách rõ ràng (mặc dù nếu bạn theo đuôi ai và được theo đuôi lại thì có thể coi là “bạn” đầy đủ), điều này gây ra vô số hiểu lầm và thiếu tự nhiên đến mức tạo thành rào cản cho những người mới tham gia.

Google+ cũng theo mô hình truyền tin kiểu Twitter nhưng họ làm cho tiến trình theo đuôi diễn ra một cách tự nhiên hơn bằng cách cho “đặt vòng” (circle) những người bạn muốn theo dõi thành từng nhóm. Tuy bản chất vẫn là theo đuôi nhưng người dùng dường như có cảm giác làm chủ được việc truyền thông của mình và dễ hiểu hơn. Có một điểm khác biệt là Google+ mở rộng việc truyền tin hơn Twitter bằng cách dồn các thông điệp của những người “đặt vòng” bạn nhưng bạn không “đặt vòng” họ vào một chỗ (Incoming).

Dùng một MXH mở luôn cho cảm giác rất tốt lúc ban đầu, luồng thông tin dường như bất tận tìm đến bạn, những khuôn mặt mới, những bình luận mới cứ tuôn trào vào dòng tin của bạn. Nếu bạn là người trong giới công nghệ bạn sẽ khó bỏ qua những nhân vật tên tuổi hay blogger nổi tiếng như Larry Page, Matt Cutts, Robert Scoble, hay MG Siegler và dòng tin của bạn sẽ nhanh chóng tràn đầy những thông tin và bình luận của hàng ngàn người khác, không may, phần lớn những thông tin này là thú vị và bạn khó bỏ qua. Sau khi đặt vòng cho khoảng 100 người bạn sẽ bị choáng ngợp với dòng tin của mình và sẽ cảm thấy nản chí để tiếp tục theo dõi nó một cách nghiêm túc (ở Twitter thì điều này sẽ xảy ra khi bạn theo đuôi tầm 300 người). Quá tải thông tin là căn bệnh kinh niên của các MXH và dường như trong Google+ nó đang được khuyếch đại lên vài lần nữa.

Ở mặt bên kia, lịch sử của Facebook gắn liền với việc chiến đấu chống quá tải thông tin và spam. Mark Zuckerberg đã gây thù chuốc oán với vô số người, từ các blogger/ các marketer muốn bài viết/quảng cáo của họ lan truyền thật nhanh trên mạng, tới các nhà phát triển muốn mỗi khi game thủ mua một con bò hay trồng khoai tây trong FarmVille thì việc này phải được đưa lên dòng tin của hàng trăm bạn bè của họ, vì đã mạnh tay loại bỏ hết các thông tin không quan trọng và giữ gìn bản sắc cho MXH của mình. Sẽ không ngạc nhiên khi các blogger, marketer hay các developer đổ ào sang Google+ và tung hô nền tự do mới cho MXH, nhưng nếu Google+ không kiềm chế được những người này họ sẽ phải trả giá rất đắt bằng kinh nghiệm (xấu) của người dùng.

Liệu Google+ sẽ thành công?

Khi bài này đang được viết, theo Paul Allen, ước chừng có khoảng hơn 7 triệu người đã tham gia Google+ và đang tiến tới con số 10 triệu trong nay mai. Đây là một tốc độ mà có lẽ chính Google cũng hơi bất ngờ, một khởi đầu thuận lợi cho một tính toán đúng đắn: bằng việc đơn giản hóa kết nối và truyền tin, hứa hẹn đảm bảo tính riêng tư, Google+ đang thu hút người dùng nhanh hơn bất kỳ MXH nào trước đây.

Việc người dùng đổ sang Google+ cũng báo hiệu sự bão hòa về kinh nghiệm sử dụng Facebook sau nhiều năm và người dùng đang cần một không gian mới để lọc lại các quan hệ của mình. Mặt khác, thương hiệu Google và việc được lòng giới truyền thông (Google+ dù mới chỉ ra mắt được một tuần đã là nguồn traffic lớn cho báo chí, blog) sẽ giúp MXH này phát triển nhanh chóng về số lượng người dùng. Tuy nhiên việc Google+ sẽ thành công ở mức nào là câu hỏi lớn, sau đây là vài kịch bản có thể xảy ra:

  1. G+ sẽ thành mạng số 1 về người dùng, thay thế hoàn toàn Facebook trong 5 năm tới
  2. G+ sẽ có (vài) trăm triệu người dùng, tồn tại song song với Facebook, thay thế chỗ của Twitter
  3. G+ sẽ bốc lên nhanh rồi cũng nhanh chóng bị bỏ hoang

Nhìn lại những mạng đã từng nổi lên và đã chìm dần vào quên lãng như Friendster hay MySpace, có thể nói rằng thu hút người dùng chỉ là bước đầu tiên trong việc đảm bảo sự phát triển thành công của một MXH. Chất lượng của một mạng chỉ có thể bộc lộ sau một thời gian sử dụng nhất định. Google+ được định hướng như một nền tảng truyền thông hơn là mô phỏng các quan hệ xã hội thực (kiểu Facebook) nên việc đem tới những thông tin có giá trị cho người dùng, lọc spam là quan trọng nhất. Các vòng bạn bè có thể làm một phần công việc này, nhưng phó mặc cho người dùng quản lý dòng thông tin sẽ là sai lầm lớn (vì bản chất người dùng là lười biếng).

Kịch bản thứ nhất, theo tôi, sẽ rất khó xảy ra vì hai mạng đi theo hai định hướng khác nhau trong khi nền tảng của Facebook, cùng hệ sinh thái quanh nó, đã trưởng thành đến mức gần như không thể bị phủ định bằng một sản phẩm cùng kiểu được.

Vượt qua Twitter, trở thành mạng truyền thông quan trọng thứ 2, dường như là câu chuyện trong tầm tay của Google+. Tuy nhiên, chính những hạn chế của Twitter lại là điểm mạnh của mạng này, các ứng dụng sử dụng API của Twitter có mặt trên hầu hết các thiết bị di động khiến cho Twitter đang trở thành nền tảng truyền thông mạng dễ dùng nhất hiện nay. Dù Google đang sở hữu HĐH mobile Android và trình duyệt Chrome, Google+ cũng cần nhiều thời gian để bắt kịp Twitter về mặt phổ biến, và sẽ khó bắt kịp về mặt đơn giản dễ dùng.

Kịch bản thứ ba không phải là không thể xảy ra, sự phức tạp của các vòng tròn trong G+ có thể làm nức lòng những người thích khám phá các công nghệ, sản phẩm mới nhưng sẽ là ác mộng cho những “người thường”. Quan hệ bất đối xứng không phải là món các chị em ưa chuộng và khi làn sóng của dân geek qua đi thì những sản phẩm làm cho họ sẽ lâm cảnh “giá lạnh” ngay.

Không ai, kể cả Google, làm ra một sản phẩm Internet mà có thể đảm bảo nó sẽ thành công 100%. Thành công nhiều khi tới rất bất ngờ từ những yếu tố mà ban đầu bạn không nghĩ tới và thất bại đôi khi cũng thế. Tuy nhiên, xác suất thành công sẽ cao hơn nếu bạn nắm bắt kịp thời những chuyển biến từ người dùng, không ngại thay đổi, không ngại làm phật lòng một bộ phận to mồm nào đó để đảm bảo giá trị cốt lõi của sản phẩm. Dù Google đã hơn một lần thất bại khi làm MXH, tôi vẫn hy vọng họ thành công trong lần này, tuy nhiên, điều đó sẽ phụ thuộc vào khả năng thay đổi và thích ứng của chính họ.

Thời Của Các “Hệ Sinh Thái”

Nhận định February 14th, 2011


Trong bức memo nổi tiếng (xem bản dịch ở đây) gửi nhân viên của giám đốc điều hành Nokia mới rò rỉ gần đây đã thừa nhận sự thất bại của công ty sản xuất ĐTDĐ nổi danh này trong các phân khúc cao và trung cấp là do các hệ sinh thái (ecosystem) mà các đối thủ non trẻ của họ trong lĩnh vực di động là Apple và Google xây dựng thành công.

Tôi vẫn nhớ những chiếc điện thoại Nokia đầu tiên mình đã dùng: tin cậy, chắc chắn và tiện lợi. Điều thú vị nhất là nó được thiết kế rất tốt, rất ít khi mất sóng và khi sử dụng thành thạo bạn hoàn toàn có thể vừa nhắn tin vừa lái xe máy trên các con đường đông đúc (nhưng việc có thể không có nghĩa là việc nên làm). Mọi chuyện khi ấy rất thuận lợi với Nokia, họ có thị áp đảo trên toàn cầu, uy tín của nhà sản xuất ĐTDĐ số một cả về phần cứng lẫn phần mềm. Vâng, cùng thời gian đó, ở nước Mỹ, người ta vẫn dùng những chiếc ĐTDĐ lạc hậu vài thế hệ so với châu Âu và Nokia thậm chí không thèm cố gắng đặt chân vào thị trường này bằng cách thỏa hiệp với các Telco “rắn mặt” ở đó.

Năm 2007, đột ngột có một siêu phẩm ra đời, không phải từ nước Nhật — quê hương của những chiếc điện thoại “khủng” có thể làm-đủ-mọi-thứ — mà lại từ chính vùng trũng của thế giới di động, nước Mỹ: đó chính là chiếc iPhone huyền thoại. Nhưng lúc đó không ai nhìn thấy sự đe dọa đáng kể nào từ chiếc điện thoại xinh xắn này, bất quá nó cũng chỉ là món đồ thời trang đắt tiền cho dân sính hàng công nghệ. Thế giới không hề biết ẩn sau thiết bị nhỏ nhắn ấy là cả một “âm mưu hiểm độc” của Apple: xây dựng một ecosystem, định nghĩa lại khái niệm smartphone.

Nhờ sự nhạy bén (và có thể một chút may mắn), Google, lại là người phản ứng nhanh nhất trước sự đe dọa của hệ sinh thái quanh thiết bị di động này. Năm 2008, họ cùng 14 công ty khác công bố việc phát triển hệ điều hành Android mở và miễn phí, ai cũng biết rằng đó là câu trả lời cho hệ sinh thái bắt đầu hình thành của Apple qua việc ra đời App Store cùng năm ấy. Tròn hai năm sau đó, vào tháng 6 năm 2010, App Store đã có 225.000 ứng dụng và hơn 5 tỷ lượt tải về, lúc này mọi smartphone không chỉ được đánh giá qua những phần mềm cài sẵn trong đó mà còn qua số ứng dụng người dùng có thể cài vào đó. Dù không nổi tiếng bằng, đối thủ của App Store trên nền tảng Android là App Market cũng đạt con số 200.000 ứng dụng vào cuối năm 2010; đây cũng là năm số ĐTDĐ chạy HĐH Android bùng nổ, trở thành nền tảng phổ biến nhất cho smartphone.

Nokia bắt đầu tìm cách đối đầu với những thế lực mới nổi lên bằng cách mua lại HĐH Symbian vào cuối năm 2008 và phát triển các phiên bản riêng cho các dòng smartphone của họ như Nokia 5800 hay N8 gần đây… Họ cũng muốn xây dựng một hệ sinh thái riêng bằng việc cho ra đời Ovi Store vào tháng 5 năm 2009 (tuy nhiên, Ovi Store không dành riêng cho dòng smartphone của Nokia mà có cả ringtone, theme… cho các dòng điện thoại “cổ” khác như Series 40, S60). Và như các bạn đã biết, các nỗ lực này đều thất bại với việc thị phần phân khúc điện thoại cao cấp và trung cấp của Nokia ngày càng thu hẹp nhanh chóng. Trong bức memo nói trên, CEO Stephen Elop đã gọi nền tảng mà Nokia theo đuổi là “nền tảng đang cháy rụi” (burning platform) và so sánh nó với giàn khoan dầu đang sụp đổ. Symbian thực sự đã quá giá cỗi để kéo dài sự sinh tồn còn HĐH MeeGo, một cố gắng khác cùng Intel, thì là dấu hỏi lớn về khả năng tạo ra hệ sinh thái quanh nó.

Nokia đang đứng ở ngã ba đường: hoặc dùng Android, một hệ sinh thái đã hình thành đầy đủ và đối mặt với một rừng các đối thủ như Motorola, HTC, Samsung, LG, Sony Ericsson… hay đi theo Microsoft, một gã khổng lồ chậm chân khác, với Windows Phone 7 (FYI, Nokia cuối cùng đã chọn Microsoft làm đối tác chiến lược). Tuy nhiên bài này không dành cho việc phân tích thất bại của Nokia (theo tôi gốc rễ là ở khả năng tự đổi mới và sáng tạo của công ty này) mà nói về các hệ sinh thái xung quanh các nền tảng phần mềm.

Nếu máy tính của bạn đang chạy Windows thì đó chính là một trong những hệ sinh thái lớn nhất, thành công nhất trong lịch sử công nghệ thông tin. Vô số phần mềm và phần cứng đã hưởng lợi quanh sự lớn mạnh của Windows và Microsoft, công ty sở hữu hệ sinh thái này, đã trở thành công ty phần mềm lớn nhất thế giới.

Blog này có được cũng nhờ một hệ sinh thái khác: WordPress. Hàng ngàn plugin và vô số các theme được phát triển/thiết kế cho hệ sinh thái WordPress tạo nên một nền tảng blogging tuyệt vời, uyển chuyển đồng thời tạo cơ hội kiếm tiền cho rất nhiều lập trình viên, designer.

Cũng không thể không nhắc tới hệ sinh thái quanh Facebook, mạng xã hội có hơn 500 triệu người dùng. Bằng việc cho phép tạo ra các ứng dụng, game, FanPage… gắn vào nền tảng của mình, Facebook đã trở thành một nền tảng truyền thông, giải trí và cả kinh doanh cực kỳ quan trọng trong xã hội ngày nay.

Lịch sử cho thấy nếu bạn ra một phần mềm hay dịch vụ web đơn lẻ dù nó có xuất sắc tới đâu thì bạn cũng luôn phải đối mặt với một sự nguy hiểm to lớn là ngày mai có thể bạn sẽ bị qua mặt bởi một đối thủ làm tốt hơn bạn về sản phẩm hay về giá thành. Chỉ có những hệ thống có hệ sinh thái phát triển quanh nó là có khả năng tồn tại cao vì nó sẽ chỉ bị đe dọa bởi một hệ sinh thái khác tốt hơn hẳn và ngay trong trường hợp đó việc chuyển đổi từ hệ sinh thái này qua hệ khác cũng vô cùng đắt giá với người dùng.

Hệ sinh thái làm cho sản phẩm của bạn có thể đáp ứng với vô số tình huống sử dụng trên thực tế trong khi bạn không phải phân tán nguồn lực để làm những chức năng râu ria. Nó làm tăng giá trị của sản phẩm bạn không phải theo cấp số cộng mà theo cấp số nhân. Nó giúp bạn gia tăng khoảng cách với các đối thủ, buộc các đối thủ phải theo cuộc chơi mà bạn là người viết luật và loại bỏ những nỗ lực quấy rối (disrupt) đơn lẻ.

Tóm lại, một khi bạn có thể biến sản phẩm của mình thành một nền tảng và xây dựng thành công hệ sinh thái cho nó, bạn sẽ có vị trí thuận lợi để tiến tới thống trị thị trường hay chí ít cũng làm cho các đối thủ hùng mạnh mất ăn, mất ngủ. Twitter thành công vì họ chú trọng việc phát triển hệ sinh thái quanh hệ thống tin tức 140 ký tự của mình ngay từ lúc khởi phát.  Ngày nay, bạn có thể dùng Twitter từ gần như bất kỳ thiết bị có kết nối Internet nào và đây là một đảm bảo vững chắc cho sự tồn tại của dịch vụ này. Firefox, từ một dự án tưởng như đã chết, đã trở thành mối đe dọa lớn cho trình duyệt từng chiếm ưu thế tuyệt đối về thị phần là Internet Explorer phần lớn nhờ hệ thống  add-on của nó.

Tuy nhiên, xây dựng một sản phẩm thì là việc tương đối dễ, xây dựng một hệ sinh thái là việc khó khăn hơn nhiều. Theo tôi, để chuẩn bị cho một hệ sinh thái chúng ta cần:

  1. Suy nghĩ về nó từ sớm, tốt nhất là ngay khi hình thành ý tưởng về sản phẩm của mình.
  2. Làm API hay cơ chế plugin cho sản phẩm/dịch vụ của mình càng sớm càng tốt. Không nên làm API để cho có, nó phải thực sự dễ nắm bắt, đầy đủ nhưng không chồng chéo, dư thừa. Bản thân mình phải tham gia phát triển các dịch vụ bổ sung để thấy được các vấn đề từ API/cơ chế plugin của chính mình.
  3. Có cơ chế khuyến khích các LTV tham gia vào hệ sinh thái của mình (đây là phần khó nhất và quan trọng nhất)
  4. Đảm bảo hệ thống không bị “chết” (quá tải, chậm chạp) vì chính hệ sinh thái của mình

Xây dựng hệ sinh thái thành công cũng chính là một cách xây dựng để trường tồn. Tại Việt Nam, Zing Me là dịch vụ chú trọng nhiều tới việc phát triển hệ sinh thái cho mình từ ban đầu và đã thu được một số thành quả. LinkHay cũng ra một bộ API khá hoàn chỉnh để hướng tới việc đưa LinkHay tới mọi thiết bị. Có thể việc xây dựng các hệ sinh thái quanh sản phẩm của các công ty Việt Nam không thuận lợi như các dịch vụ danh tiếng trên thế giới nhưng tôi tin đó là con đường đúng đắn, phù hợp với xu hướng chung và là sự đảm bảo sự tồn tại của chính mình trước các thế lực mới trong và ngoài nước.

FPT & 7 Vấn Đề

Nhận định January 12th, 2010


Như mọi năm, VNExpress vẫn sốt sắng với việc đưa ra danh sách những người giàu nhất trên thị trường chứng khoán năm 2009. Có lẽ một điều không khỏi khiến các biên tập viên chạnh lòng là người từng đứng đầu trong danh sách này năm đầu tiên (2006) — ông Trương Gia Bình, cựu TGĐ, nay là chủ tịch HĐQT của FPT — nay đã tụt xuống hạng 18, giảm 8 bậc so với năm ngoái (2008). Giá trị tài sản theo chứng khoán của ông Bình cũng giảm đáng kể so với năm cổ phiếu FPT lên sàn, từ 2.354 tỷ năm 2006 xuống còn xấp xỉ 921 tỷ đồng năm nay (nhưng vẫn bằng gần gấp đôi so với năm ngoái khi tổng giá trị cổ phiếu của ông Bình chỉ còn 582,9 tỷ do hệ lụy của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.)

Qua biểu đồ dưới đây người ta dễ dàng nhận thấy rằng giá cổ phiếu của FPT sau khi lên đỉnh cao vào đầu năm 2007 chưa bao giờ có bước đột phá so với mặt bằng chung.

Giá CP của FPT từ 13/12/2006 tới 08/01/2010 so với VNINDEX

Giá CP của FPT từ 13/12/2006 tới 08/01/2010 so với VNINDEX

Có thể nhiều người cho rằng thị giá đã không phản ánh được giá trị thực của công ty khi mà FPT vẫn là một trong những công ty có doanh thu lớn nhất tại Việt Nam, vẫn ẵm về các giải thưởng như đơn vị gia công xuất khẩu phần mềm hàng đầu, đơn vị cung cấp dịch vụ tích hợp hệ thống thông tin hàng đầu… Vâng, họ vẫn đang làm tốt nhiều điều, nhưng thị trường mong chờ nhiều hơn thế ở một công ty công nghệ mà doanh số và các danh hiệu ấy chỉ vừa đủ để nâng đỡ giá trị của FPT như hiện tại.

Để hiểu thị trường kỳ vọng gì ở một công ty công nghệ thì chỉ cần nhìn vào ba công ty đình đám nhất hiện nay trên thế giới là Apple, Google và Microsoft. Không ai nói Microsoft, vẫn thống trị trên PC với Windows + Office và các giải pháp doanh nghiệp khác, có doanh thu kém cỏi hay không chịu dấn thân vào các lĩnh vực khác từ game tới đào tạo, từ search tới news nhưng tại sao CP của Microsoft lại không thể cất cánh so với Google (tăng 200%) và Apple (tăng 500% trong 5 năm gần đây)?

Mức tăng giá CP (%) của Microsoft (MSFT) so với Apple (AAPL) và Google (GOOG) trong 5 năm gần đây (Biểu đồ: Yahoo! Finance)

Mức tăng giá CP (%) của Microsoft (MSFT) so với Apple (AAPL) và Google (GOOG) trong 5 năm gần đây (Biểu đồ: Yahoo! Finance)

Câu trả lời đơn giản là: Microsoft thiếu những sản phẩm mới có tính đột phá. Sau Windows và Office, Microsoft đã không thể tạo nên sản phẩm khác nào có tầm ảnh hưởng lớn. Bất chấp các nỗ lực lớn lao, họ vẫn chưa đe dọa được Google trên lĩnh vực tìm kiếm. Những sản phẩm cố theo đuôi Apple như Zune chỉ đủ làm nên mấy câu chuyện tiếu lâm trên các trang công nghệ. Hệ điều hành Windows Mobile ngày càng thất thế so với iPhone, Android và Internet Explorer ngày càng bị sói mòn cả về thị phần lẫn uy tín. (Có thể coi XBOX là một ngoại lệ hiếm hoi, nhưng đó là một thành công quá nhỏ so với tầm cỡ của Microsoft). Trong khi các đối thủ các đối thủ cũ và mới của họ hàng ngày vẫn tạo nên các cơn “địa chấn” bằng những sáng tạo không mệt mỏi trên các lĩnh vực then chốt của công nghệ ngày nay như web, di động và cloud computing.

Nhìn vào Microsoft, ta có thể nhìn thấy phần nào vấn đề đang treo lơ lửng trên đầu FPT với tư cách là công ty công nghệ hảng đầu của Việt Nam vào thời điểm hiện tại. Những vấn đề (nếu dùng tiếng Anh tôi sẽ thích dùng từ pitfall — cạm bẫy/sai lầm — hơn là từ problem) mà tôi nêu ra dưới đây có thể FPT hoàn toàn ý thức được (hoặc không?) nhưng không nhằm hạ thấp uy tín của FPT mà chỉ hy vọng các FPTer có thể nhìn thấy mặt trái của tấm huy chương của mình.

1. Phân tán nguồn lực

Đây có lẽ là sai lầm mang tính “vĩ mô” nhất của FPT. Có thể do sức ép (hay tham vọng) phải trở thành một tập đoàn đa ngành, FPT đã tham gia vào một loạt các lĩnh vực phi công nghệ như ngân hàng (Tiền Phong Bank) hay bất động sản (FPT Land)… Thị trường không tin FPT có thể làm tốt trong tất cả những ngành này dù đó đang là những lĩnh vực “bở béo”. Tham gia vào các lĩnh vực phi công nghệ tiềm ẩn những rủi ro rất lớn do thiếu bề dày kinh nghiệm. Google có thể tham gia vào lĩnh vực thanh toán trực tuyến (Google Checkout) hay vẽ bản đồ thế giới (Google Map) nhưng nếu họ lập ra Google Bank hay Google Land thì chắc chắn Phố Wall sẽ trừng phạt họ ngay lập tức ngay cả khi những lĩnh vực này hứa hẹn thành công. Tại sao? Vì ngoài những rủi ro tài chính, Google sẽ không còn là nhãn hiệu công nghệ nữa.

Về mặt chiến lược, tham gia vào các lĩnh vực khác nghĩa là bạn đang phân tán nguồn lực của mình. Bạn sẽ mất lợi thế trước các đối thủ chỉ tập trung làm tốt một việc là đánh bại bạn trong lĩnh vực chính.

2. Thiếu tự chủ về công nghệ

Trong thế giới IT, kẻ nắm công nghệ sẽ chiếm gần hết miếng bánh lợi nhuận. Trong khi Apple có được hàng trăm đô-la lợi nhuận trên mỗi chiếc iPhone bán ra, các công ty Trung Quốc và Đài Loan sản xuất ra nó chỉ có được vài đô lẻ. FPT không có công nghệ nào của riêng mình, họ chấp nhận dựa vào các tập đoàn lớn và tìm kiếm lợi nhuận qua các hợp đồng trung gian. Việc này có thể không hề tệ tại Việt Nam bây giờ nhưng miếng bánh sẽ ngày càng nhỏ đi theo thời gian. Quan trọng hơn bạn khó có thể tạo lập được uy thế khi không có những công nghệ riêng, thoát khỏi những cái bóng của Microsoft, Oracle hay SAP.

Thị trường thường không đánh giá cao những middleman vì nếu không có bạn thì những công ty khác sẽ rất vui lòng làm thay mà không có mấy sự khác biệt về giá trị mang lại.

3. Quá chú trọng vào B2B

Nhiều người nói với tôi rằng văn hóa của FPT là văn hóa B2B. Nhiều năm gặt hái thành công từ các hợp đồng cho khối doanh nghiệp (cả nhà nước và tư nhân trong/ngoài nước) đã hình thành văn hóa đặt nặng các công nghệ enterprise và khách hàng doanh nghiệp trong FPT.

Vấn đề của văn hóa B2B là tính bảo thủ và sự phụ thuộc. Bạn sẽ không có nhiều khoảng trống cho sự sáng tạo khi thực hiện một hợp đồng gia công phần mềm; bạn sẽ phải phụ thuộc vào các hợp đồng với các DN để duy trì sự tồn tại và phát triển của công ty.

Vào một ngày đẹp trời bạn ký được và hoàn thành xuất sắc một hợp đồng gia công phần mềm (outsourcing) lớn, nhưng bạn cũng chỉ là một trong hàng trăm công ty làm được chuyện này trên thế giới. Nếu bạn thành công trong việc triển khai Solomon hay SAP cho một số doanh nghiệp thì cái được duy nhất bạn có được ngoài doanh số và một vài cái gạch đầu dòng trong profile là tạo công ăn việc làm cho một số nhân viên. Ít ai tin rằng công ty bạn sẽ bứt phá từ các hợp đồng ấy vì kẻ được thực sự là SAP, là Microsoft chứ không phải bạn.

Ngoài ra, văn hóa B2B với mục tiêu là tìm kiếm doanh thu trước mắt sẽ làm mất khả năng đầu tư vào các hướng đi dài hạn, đó có thể là một cạm bẫy hết sức nguy hiểm.

4. Không (thực sự) tham gia cuộc chơi mạng XH

Có lẽ niềm tự hào lớn nhất của FPT trên web là trang VNExpress, một news portal cổ điển. FPT đã gần như đứng ngoài khi trào lưu web 2.0 nổi lên với sự phát triển của blogging/micro-blogging và đặc biệt là mạng xã hội.

Không phải ban lãnh đạo của FPT không ý thức được sức mạnh của trào lưu này nhưng dường như họ đang hiểu theo cách của riêng mình (FPT 2.0?) và không thực sự quyết tâm tham gia vào cuộc chơi lớn mà nhẽ ra với tầm cỡ của mình mọi người đều hy vọng họ phải là người dẫn đầu.

Web cuối cùng sẽ là đích đến của mọi công nghệ vì sau nó là những con người đang kết nối với nhau. Giá trị của một mạng XH tăng theo cấp số nhân như những kết nối giữa các thành viên trong đó. Kẻ nắm mạng xã hội sẽ nắm cả identity và content, những thứ có giá trị nhất trong kỷ nguyên người dùng là trung tâm này. Nếu FPT trở thành người nắm mạng XH đông nhất Việt Nam thì họ sẽ có vị thế khác hẳn hiện nay. Xin hãy nhìn vào giá trị các mạng XH thành công của Trung Quốc, Hàn Quốc.

Nói rộng ra, FPT lẽ ra phải tham gia quyết liệt và dẫn đầu những lĩnh vực hot nhất trên web để nâng cao vị thế của mình thay vì chỉ chăm chú làm đẹp báo cáo tài chính hàng năm. Thị trường  luôn mong đợi bạn, một công ty công nghệ, phải đi đầu trong các lĩnh vực công nghệ hot nhất.

5. Không coi trọng mã nguồn mở

Vâng, tôi biết FPT là người đang host các phần mềm mã mở cho Ubuntu, SourceForge… một bước đi rất đáng trân trọng. Nhưng câu hỏi đặt ra là họ có thực sự tham gia vào cuộc chơi mã mở không? Việc tận dụng mã mở để phát triển công nghệ cho mình ở FPT như thế nào? Bạn có thấy FPT cho ra mắt phần mềm đang kể nào dưới dạng mã mở không?

Có thể nói rằng nếu bạn không thể viết ra các hệ điều hành như Windows hay Mac thì mã mở là cơ hội lớn nhất cho bạn để phát triển. Facebook, Twitter và hàng ngàn các trang web 2.0 khác đang gặt hái thành công  trên nền tảng công nghệ mã mở là minh chứng.

Dùng nền tảng mã nguồn mở bạn sẽ luôn có nhiều giải pháp cho một vấn đề và chủ động về công nghệ vì bạn có thể tiếp tục phát triển hay tùy biến nó theo nhu cầu riêng. Khi chín muồi bạn thậm chí có thể cho người khác thuê công nghệ của mình như Amazon đang làm. (Tất nhiên việc này khó hơn là kêu Microsoft đặt máy chủ Azure cho mình hay mua nguyên giải pháp cloud computing của VMWare nhưng nó khác xa về mặt giá trị.)

Người ta sẽ chờ đợi FPT tham gia vào mã mở ở bình diện cao hơn, đó là tạo ra các nền tảng, các framework riêng. Đừng cho rằng đó là việc làm vô ích vì nó không mang lại ngay tiền bạc cho bạn trong khi bạn phải support cả một cộng đồng. MySql có lẽ sẽ chỉ có vài nghìn người dùng nếu là mã đóng và ngay cả Android OS cũng không thể thành công như hôm nay nếu Google không dựa vào sức mạnh của mã mở. Đó là sức mạnh của niềm tin, của số đông, và nó cuối cùng chính là sức mạnh của bạn.

6. Thiếu động lực sáng tạo

Đây là hệ quả của văn hóa công ty như đã nói ở các phần trên. Có lẽ ý thức được điều này, FPT đã tạo các sân chơi riêng cho các ý tưởng mới có tên là Vườn Chim và sau này là dự án Visky. Nhưng không giống như ở VinaGame, những ý tưởng của Vườn Chim hay Visky chẳng mấy khi được đầu tư đúng mức và thường chìm nghỉm sau khi ra mắt.

Động lực sáng tạo không tự nhiên có, nó phải được khuyến khích như cái quan trọng nhất trong công ty. Nói cho cùng tài sản của một công ty như Google không phải là hàng trăm ngàn máy chủ (bán đi thì cũng chẳng dc bao nhiêu) mà là hàm lượng sáng tạo trong từng dòng code của search engine, của GMail, Wave, Android OS…

Không có những sáng tạo đột phá thì công ty bạn sẽ giống như Microsoft: hùng mạnh nhưng dễ tổn thương. Các cổ đông sẽ ngoảnh mặt với các cổ phiếu công nghệ không-có-gì-mới và mức tăng trưởng giá trị như của Apple hay Google sẽ mãi chỉ là một câu chuyện cổ tích với bạn.

7. Thiếu một cái đầu kiểu Steve Jobs

Vấn đề cuối cùng là vấn đề của mọi vấn đề. Dĩ nhiên đòi hỏi mỗi công ty công nghệ phải có một Steve Jobs là việc không thể, nhưng đó là hình mẫu lý tưởng.

Người ta phân biệt hai loại CEO là kiểu businessman và geek. Steve của Microsoft là kiểu thứ nhất, còn Steve của Apple là kiểu thứ hai. Một công ty công nghệ vẫn cần những businessman giỏi nhưng người quyết định về hướng đi nên có đầu óc của một geek để có những đam mê và những quyết sách đột phá. Đó cũng là trường hợp của những công ty may mắn như Google với bộ đôi Larry Page và Sergey Brin, những người đã viết những dòng code đầu tiên cho Google, của Facebook với CEO trẻ tuổi Zuckerberg, người đang làm thay đổi cán cân ảnh hưởng trên Internet.

Một cái đầu đam mê, quyết đoán và có tầm nhìn về sự chuyển dịch thế giới công nghệ chính là cái FPT đang thiếu. Họ nên gạt bỏ cái tôi để tìm một nhân vật như vậy nếu thực sự vẫn muốn nhìn thấy tên các FPTer trong bản danh sách do chính mình lập ra sau 5 – 10 năm nữa khi mà các công ty lớn khác đang nhân nhanh tài sản của mình (Hoàng Anh – Gia Lai, ITACO, VINCOM, MASAN…) và các đối thủ sẽ ngày càng “khó chơi” hơn (VinaGame, VTC, VDC và cả Viettel).

Kết Luận

Đây là vấn đề của FPT nhưng cũng không hẳn của riêng họ. Cái bẫy (pitfall) có thể sập xuống với bất kỳ công ty công nghệ nào, đặc biệt là khi bạn đang ở trên đỉnh vinh quang.

Trong một thế giới mà giá trị có thể mất đi chỉ sau một đêm, cách đảm bảo cho sự thành công duy nhất là không ngừng sáng tạo và xoay chuyển thật nhanh để các đối thủ không thể tận dụng cơ hội. Thay vì cười nhạo iPhone như Microsoft đã làm khi Apple tham gia vào thị trường di động thì hãy suy nghĩ lại là tại sao giao diện của Windows Mobile lại phải bê nguyên cái đang có trên desktop với những nút tắt bật, menu nhỏ xíu trong khi người dùng đã vứt cái bút chấm vào sọt rác và chỉ dùng ngón tay để nhập lệnh?

Thật không may, ngày nay bạn không có quá nhiều thời gian để suy nghĩ và thường phải hành động thật nhanh trước khi quá muộn.

Zing Me và Hơn 3 Triệu Tài Khoản Hoạt Động

Nhận định, Việt Nam, Đánh giá December 9th, 2009


Có thể nói con đường đi của mạng XH Việt Nam là một con đường chông gai. Khời đầu bằng sự nổi lên của Yahoo!360 nơi mà người Việt Nam lần đầu tiên tiếp cận với những mối liên kết ảo, làm quen với những thông điệp cá nhân qua các blash và đặc biệt là blog. Cùng với Yahoo!360 là một loạt các mạng XH nội địa khác ra đời và phần lớn có cách tiếp cận giống Yahoo!360 là tập chung vào cái “tôi” của các thành viên với các kiểu nhà cửa ảo, blog, kho nhạc riêng…

Sự kết thúc của Y!360 không bất ngờ nhưng điều bất ngờ là đó lại không phải là cơ hội cho các mạng cùng kiểu khác, ngược lại nó là tiếng chuông báo hiệu sự kết thúc của một hình thái mạng XH tại Việt Nam.

Chậm trễ hơn, nhưng cơn lốc Facebook đang “hoành hành” khắp các châu lục, cuối cùng cũng bắt đầu cuộc càn quét vào Việt Nam. Người dùng nhanh chóng nghiền mạng XH này và phụ nữ lại có vẻ là những người tích cực nhất. Không rườm rà, không nhiều màu sắc lòe loẹt, Facebook chinh phục người dùng vì các mối liên kết. Vợ tôi, người chỉ bắt đầu dùng Facebook khi mọi hy vọng cứu vãn cái blog tại Y!360 hoàn toàn tắt hẳn, nhanh chóng tìm ra điều thú vị từ cái giao diện thoạt nhìn có vẻ nhàm chán của Facebook. Sau khi liên kết với các đồng nghiệp, bạn bè thân và nhận/viết những comments đầu tiên, người dùng sẽ hiểu ngay được giá trị của các mối liên kết trên mạng XH này. Tất nhiên không thể không kể đến sức hấp dẫn của các quiz và game trên Facebook với người dùng Việt Nam. Sau vài tháng, số thành viên Facebook của Việt Nam đã lên tới hơn một triệu người.

Bạn có Facebook chưa?

Bạn có Facebook chưa?

Nhưng Việt Nam là đất nước của những điều bất ngờ, Facebook đột nhiên gặp trục trặc và người ta đoán rằng nó đã bị chặn lại sau tuyên bố của một phát ngôn viên chính phủ. Việc chặn Facebook sẽ khiến người dùng Việt Nam phải gánh chịu một thiệt thòi lớn vì Facebook còn hơn một mạng XH, nó là một trường đại học trên mạng.

Câu chuyện phát triển của Facebook ở Việt Nam khá là ngoạn mục nhưng vẫn không thể sánh bằng Zing Me, mạng xã hội mới ra mắt của VinaGame. Tôi nhớ tới buổi trò chuyện với anh Vương Quang Khải cách đây vài năm khi trang Zing.vn chỉ mới ra đời. Tôi có hỏi vì sao anh lại làm web trong khi VinaGame là một công ty chuyên về game tại thời điểm đó. Anh Khải trả lời rằng vì những người (lãnh đạo) ở VinaGame có một ước mơ. Tôi tin rằng đó không phải là một ước mơ tầm thường.

Trang Zing hôm nay đã trở thành một trong những trang web có lượng truy cập nhiều nhất Việt Nam (thực tế là trang web nội địa có lượng truy cập nhiều nhất, theo Alexa.) Tuy thành công về lựợng truy cập không đi kèm với thành công về doanh thu, nó tạo nên uy thế cho một công ty Internet hàng đầu Việt Nam và góp phần không nhỏ trong việc định giá VinaGame lên tới gần nửa tỷ USD (nếu những đồn đãi tôi nghe được là chính xác, nhưng đây sẽ không phải là con số viễn tưởng nếu VinaGame lên sàn.)

Hầu hết mọi người đều ngạc nhiên khi Zing Me công bố có 1 triệu đăng ký hoạt động ngay trong tháng đầu tiên và càng ngạc nhiên hơn khi nó có hơn 3 triệu đăng ký hôm nay (chính xác là 3.746.550 vào ngày 30/11/2009). Nhiều người cho rằng anh Khải đã phóng đại con số bằng cách convert người dùng của VinaGame sang mạng này. Tôi không cho rằng như vậy. Có hai lý do để Zing Me có nhiều đăng ký hoạt động thực sự:

  1. Việc convert là có thực nhưng với điều kiện bạn chủ động làm việc đó. Lưu ý rằng VinaGame có 20 triệu đăng ký nên việc có 3 hay 4 triệu đăng ký vào Zing Me cũng không phải là quá nhiều. Nhưng cũng phải nói thêm 20 triệu đăng ký của VinaGame không đồng nghĩa có 20 triệu người dùng mà thường một người có nhiều tài khoản (tôi nghe nói các “cao thủ võ lâm” có đến hàng trăm tài khoản không phải là chuyện hiếm.) Tương tự, Zing Me có 3 triệu đăng ký hoạt động có thể không đồng nghĩa với việc có 3 triệu người dùng riêng biệt.
  2. Zing Me không nhắm vào các người dùng “đại học” (như mục đích ban đầu của Facebook) nhưng lại biết khai thác những điểm hấp dẫn nhất của Facebook với người dùng thông thường của Việt Nam như các quiz, quà tặng và đặc biệt là các game nông trại. Người dùng phần nhiều thuộc lứa teen của VinaGame sẽ cảm thấy rất thú vị với các trò chơi này và gắn bó với Zing Me.
zing-me-happy-farm

"Nông trại vui vẻ" sẽ mang lại nhiều điều "vui vẻ" cho Zing Me?

Dù như thế nào hơn 3 triệu tài khoản hoạt động vẫn là một con số rất ấn tượng. Ấn tượng hơn là nó sẽ giải được bài toán doanh thu từ web cho VinaGame. Mặc dù Zing.vn là trang web có thứ hạng cao, doanh thu từ quảng cáo của nó lại thua xa VNExpress (theo công bố mới đây Zing có doanh thu là 1 triệu USD so với 7 triệu USD của VNExpress từ quảng cáo trực tuyến — có thể thấy rõ sự chênh lệch về số lượng quảng cáo gắn trên hai trang này.) Điều này khá dễ hiểu vì “khách hàng” của Zing.vn chủ yếu là tuổi teen, một phân khúc mà những người làm quảng cáo đều không mấy mặn mà trừ một vài nhãn hiệu cần gây dựng lòng trung thành sớm như Kotex, LipIce hay Pond.

Trái lại doanh thu của Zing Me sẽ không quá phụ thuộc vào quảng cáo mà đa dạng hơn nhiều, đặc biệt là từ đầu tư của người dùng cho các trò chơi và vật phẩm ảo. Điểm khác biệt của Zing Me là trong khi doanh thu từ các trò chơi và vật phẩm ảo của Facebook phần lớn về tay các bên thứ ba, những công ty làm ứng dụng trên Facebook, thì Zing Me sẽ hưởng gần như trọn số tiền thu được (Update: Zing Me sẽ chia sẻ lợi nhuận với các bên thứ 3, nhưng không giao phó hoàn toàn như kiểu Facebook). Điều này sẽ tạo đà cho Zing Me tiếp tục phát triển nhanh hơn và tôi tin rằng Zing Me sẽ thay đổi cuộc chơi web vốn xoanh quanh “news”  (đủ loại) tại Việt Nam cũng như cách mà Facebook đang thay đổi thế giới web vốn xoay quanh “search” mà Google ở thế thượng phong.

Tôi đảm bảo sẽ không nhướn mày nếu một ngày nào đó VinaGame công bố doanh thu từ web lớn hơn mảng game online truyền thống và khi đó các công ty không tham gia hay từ bỏ sớm cuộc chơi mạng XH có lẽ sẽ phải hối tiếc.

Người Thứ 14

Nhận định, Việt Nam September 21st, 2009


Chúng ta vẫn chứng kiến những dịch vụ web mới ra đời. Đa số là những cái đã có người làm ở nước ngoài hay trong nước và nhiều người nghĩ rằng đó không phải là nhựng dự án nghiêm túc hay đáng trân trọng.

Đồng ý rằng có một số quá thiếu ý tưởng đền mức bê nguyên toàn bộ từ chức năng tới giao diện của người khác vào dịch vụ của mình, nhưng mặt khác họ đều cố gắng tìm ra một vài tiện ích dành riêng cho người Việt.

Có lẽ một trong những thứ “dễ làm” nhất là các trang từ điển trực tuyến. Xin lưu ý rằng tôi để từ dễ làm trong dấu nháy nháy vì tôi chỉ nói thuần túy về hai phương diện căn bản là kỹ thuật (khá đơn giản) và người dùng (có nhu cầu). Chúng ta đã có rất nhiều trang từ điển trực tuyến như trang Tratu.vn (Baamboo) nổi tiếng vì có nhiều tử điển bản quyền chuyên ngành, hay trang từ điển hỗ nhiều ngôn ngữ và có nhiều từ “độc”  Tudientiengviet.net và từ điển tích hợp vào các trang tìm kiếm của TimNhanh, Xalo.vn (phần hỗ trợ dịch Anh – Việt) cùng nhiều trang khác ở đây, ở đâyở đây (đã có bạn nói với tôi rằng không hiểu tại sao ai cũng đưa từ điển vào trang web của mình thay vì làm cái gì khác biệt hơn?!)

Vậy nếu bạn có ý định làm một trang từ điển trực tuyến nữa thì chắc rằng bạn không phải là người tiên phong, bạn cũng không phải là người thứ hai hay thứ ba, và tệ hơn bạn cũng chẳng phải là người thứ mười — họa chăng bạn chỉ là người thứ 13 hay 14 gì đấy. Bạn sẽ tự hỏi mình có nên làm không? Có còn mảnh đất nào trong một thị trường đầy các ông lớn, ông nhỏ như thế không?

Thực ra không có câu trả lời nào chính xác cho bạn. Nhưng tôi có thể đảm bảo rằng dù có nhiều trang từ điển trực tuyến như vậy nhưng nó vẫn chưa thỏa mãn hết các yêu cầu của cá nhân tôi vì nhiều lý do như chậm, giao diện còn rườm rà, thiếu các tiện ích tra từ nhanh… và đó chính là lý do tôi và nhiều người khác vẫn sử dụng các ứng dụng desktop như StarDict, Lingoes hay Lạc Việt, English Study… Như vậy ở một mặt nào đó, đối thủ của bạn không hẳn là Baamboo hay TuDienTiengViet.net mà là các ứng dụng desktop. Nếu bạn làm được một ứng dụng từ điển thỏa mãn nhưng mong muốn khác của người dùng ngoài việc có nhiều từ, nhiều ngôn ngữ… bạn vẫn có thể thành công.

Đến đây bạn có thể đang nghĩ rằng “Nói thì dễ chứ làm thì…”  Vâng, làm được cái gì đó tốt hơn, cool hơn quả không dễ nhưng gần đây đã có một ứng dụng khá gần với nhưng gì tôi mong đợi là trang 1TuDien.com.

Ấn tượng nhất ở trang này là tốc độ tra từ cực kỳ nhanh (truy cập ở Việt Nam). Tiếp đến là một giao diện rất Google: một search box và một nút favorite duy nhất. Kết quả hiện ra tức thì ở dưới còn các suggestion được thể hiện ở trên thay vì theo dạng danh sách xổ xuống như thường thấy — chỉ một cải tiến nho nhỏ nhưng cho thấy người thiết kế rất quan tâm tới vấn đề usebility cho người dùng. Ngoài ra còn có một bàn phím ảo giúp nhập liệu dễ dàng hơn với các chữ tượng hình (Hoa, Hàn, Nhật) hay trên môi trường mobile.

Đây chưa phải là một ứng dụng hoàn thiện vào thời điểm này. Tôi phát hiện ra một số vấn đề như thiếu phần phát âm (mặc dù theo như trang web thì có?), danh sách chọn từ điển bị lấp sau search box (xem trên màn hình 1024×768), bàn phím ảo tiếng Hoa không hoạt động và nút “ngôi sao” favorite không làm chức năng như tôi nghĩ là lưu các từ cần ghi nhớ cho người dùng mà chỉ hiện một hướng dẫn sử dụng những “ngôi sao” nhỏ hơn. Tuy nhiên, đây có thể là một cuốn từ điển trực tuyến rất nhiều tiềm năng và mặc dù đã có hàng chục các trang từ điển khác nó vẫn tạo ra các giá trị riêng.

Nhưng câu chuyện về từ điển trực tuyến sẽ không dừng lại ở 1TuDien.com, sẽ còn nhiều ý tưởng bạn có thể thực hiện xung quanh một dịch vụ mà thoạt nhìn có vẻ quá cũ, bị khai thác quá nhiều này. Ví dụ như thêm vào các chức năng cá nhân hóa, tạo nên một mạng xã hội nhỏ cho người học ngoại ngữ hay thêm vào một chức năng hoàn toàn mới nào đó mà chỉ bạn, người thứ 14, mới nghĩ ra.

Cuối cùng, có lẽ bạn đang thắc mắc là tại sao tôi gọi một dịch vụ đi sau là “người thứ 14″? Có phải vì đó là con số đẹp ngay sau số 13? Không, thực ra tôi muốn nhắc tới Google, cỗ máy tìm kiếm thứ 14(*), ra đời khá lâu sau các đàn anh Yahoo, AltaVista, Lycos, InfoSeek, Excite… Một dịch vụ mà hầu hết mọi người đều nghi ngờ về khả năng thành công khi cho rằng “còn ai cần thêm một dịch vụ tìm kiếm nữa khi mà muời ba dịch vụ khác đã chiếm hết mọi ngõ ngách trên Internet“.

Và tất nhiên, như các bạn đã biết, họ đều nhầm!

(*) Vào thời điểm 1998 trước khi Google ra đời thực ra có 15 -16 trang tìm kiếm lớn, nhưng là kết quả của (khoảng) 13 search engine.