Web 2.0 Vietnam Logo

Web Design 2.0

Căn bản, Thiết Kế October 18th, 2006


Vào thăm các trang web 2.0, điều đễ nhận thấy nhất là cách thiết kế. Với dân “ngoại đạo” thì đấy chỉ là những hình khối bắt mắt, còn dân nhà nghề thì… thở dài và đặt câu hỏi “bao giờ Việt Nam mới có những nhà thiết kế web đúng nghĩa?”

Khi bắt đầu tìm hiểu web 2.0 và các kỹ thuật đứng sau nó thì ngoài Ajax, tôi luôn chú ý đến việc thết kế đúng chuẩn web (web standards) và cố gắng áp dụng cho các ứng dụng như Fast Dictionary hay Ajax Gomoku. Tuy nhiên, vì chỉ là tay amateur không dám “múa rìu qua mắt thợ’ nên chỉ dám dùng các thiết kế giản dị nhất nhưng luôn chăn trở: “không biết ở Việt Nam có ai ý thức việc thiết kế web theo tiêu chuẩn không?“. Rồi cuối cùng tôi đọc được bài viết Web designer Việt, anh ở đâu? trên blog SonnyMotives và thật mừng khi nhận thấy nhiều người cũng có cùng nỗi âu lo.

Hình 1: Frexy Studio - trang web của Việt Nam theo chuẩn web XHTML/CSS

Vậy thế nào là kiểu thiết kế web không chuẩn? Thứ nhất phải kể tới việc dùng table làm layout cho trang web như một mặc định. Ai cũng biết table được sinh ra để hiển thị các dữ liệu dạng bảng (như bảng thống kê, bảng danh sách…) nên dữ liệu khi đưa vào đó chỉ hiện lên khi tất cả đã được tải về. Dùng table làm layout cho trang web dẫn đến tình trạng trang web tải về và hiển thị chậm. Ngoài ra, trên một số trình duyệt các bảng khi hiển thị thường dễ bị tình trang “co giật” (nhất là khi đặt chiều ngang cột theo phần trăm) trông rất phản cảm. Lạm dụng việc thiết kế web dùng table layout còn làm cho không gian web bỗng trở thành các cột đủ loại và các hình ảnh phải bị bóp vào sao cho không bao giờ được tràn ra ngoài. Tất cả những điều đó làm cho trang web thành ra cứng nhắc, không hình khối cũng chẳng có nghệ thuật.

Cùng với việc dùng table làm layout nhiều nhà thiết kế web cũng bỏ luôn việc dùng CSS để định nghĩa màu sắc, phông nền mà quên mất rằng CSS sinh ra là để giúp cho thiết kế web độc lập với HTML và do đó trang web có thể dễ dàng “thay áo” khi cần mà không phaỉ mất quá nhiều công sức. Giúp sức cho việc “qua mặt” web standards là Microsoft với việc tự tạo cho mình một chuẩn web riêng khi hiển thị trên trình duyệt phổ biến nhất thế giới Internet Explorer.

Các nhà thiết kế web 2.0 cuối cùng cũng đưa web stadards trở lại. Hiếm có trang web 2.0 nào dùng table layout và việc dùng CSS gần như là tiêu chuẩn bắt buộc. Kết quả là các trang web trở nên sống động hơn, có hồn hơn và dường như mỗi trang web đều là một tác phẩm nghệ thuật. Sự trong sáng trong thiết kế giúp cho người dùng không bị lạc vào mê hồn trận của các cột với đủ thứ màu sắc, văn bản chi chít mà tập chung vào công việc chính yếu.

Chính thiết kế 2.0 đã góp một phần cho sự thành công của web 2.0. Còn ở Việt Nam, hy vọng những SonnyMotives hay Frexy không phải là những người đơn độc.

Đầu tư mạo hiểm - Họ là ai?

Căn bản, Đầu tư mạo hiểm (VC) August 29th, 2006


Với nhiều người các quĩ đầu tư mạo hiểm (venture capital) là các nhà đầu tư đầy vẻ bí hiểm. Vậy họ là ai? Bạn có thể mong chờ gì ở họ và ngược lại họ mong chờ gì từ bạn?

Michael Arrington - Thủ lĩnh của các nhà đầu tư mạo hiểm vào web 2.0

Nói chung mọi cuộc đầu tư đều có không ít thì nhiều mạo hiểm. Trong tiếng Anh, hình thức liên doanh được hiểu là joint-venture, tức là “cùng mạo hiểm“, tuy nhiên, các quĩ đầu tư mạo hiểm (từ nay tôi sẽ dùng chữ viết tắt VC - Venture Capital) có hình thức đầu tư hơi khác với các quĩ đầu tư thông thường. Các VC đã tồn tại từ lâu, nhưng vai trò của họ đặc biệt nổi bật trong thời kỳ bùng nổ của Internet và bây giờ là trong làn sóng Web 2.0 do phong cách đầu tư “thoáng” của mình. Chúng ta sẽ tìm hiểu các nguyên tắc đầu tư của VC, cách nhìn nhận của họ với web 2.0 và những điều bạn có thể cũng như không thể hy vọng từ VC.

1. Nguyên tắc của Georges Doriot

Có thể coi Georges Doriot là cha đẻ của các VC. Năm 1946, ông lập một công ty American Research and Development Corporation và bắt đầu nghiên cứu hàng ngàn đề án kinh doanh rồi chọn ra những cái tốt nhất để đầu tư. Trong cuốn “Căn bản về đầu tư mạo hiểm“, Joseph W. Bartlett đã tổng kết các nguyên tắc đầu tư của Doriot. Đây là những điều kiện cho một cuộc đầu tư mạo hiểm:

  1. Dự án phải có công nghệ mới, ý tưởng marketing mới và các sản phẩm mới có khả năng ứng dụng trong cuộc sống.
  2. Nhà đầu tư phải có vai trò quan trọng, nhưng không nhất thiết là vai trò chi phối, trong các quyết định quản trị của công ty được đầu tư.
  3. Đầu tư vào những dự án của những người có quyết tâm và kiên định (nguyên tắc “đặt cược vào nài ngựa chứ không đặt cược vào con ngựa”).
  4. Sản phẩm hoặc dịch vụ tối thiểu phải đã qua giai đoạn định hình và có bảo vệ bằng pháp lý như bản quyền, bằng phát minh, sáng chế…
  5. Sản phẩm hoặc dịch vụ có triển vọng sẽ phát triển đầy đủ trong vòng vài năm (lý tưởng là 3 -5 năm) để có thể cổ phần hóa. (người ta gọi đây là chiến lược “hạ cánh an toàn” - exit strategy).
  6. Nhà đầu tư có cơ hội đóng góp vào công ty những “giá trị gia tăng” khác ngoài tiền bạc.

Có thể thấy, khác với các quĩ đầu tư thông thường, các VC chỉ đòi hỏi những cái thuộc về ý tưởng và triển vọng. Bạn không nhất thiết phải trình ra các báo cáo lãi lỗ hay bảng cân đối kế toán của công ty mình (mặc dù thực ra họ vẫn nghiên cứu kỹ các báo cáo tài chính của các công ty đầu tư vào trong phần lớn trường hợp). Câu cửa miệng của các VC là “chúng tôi đầu tư vào con người“, vâng, họ nói thật vì nếu không có các báo cáo lãi lỗ hay bảng cân đối kế toán đẹp đẽ thì điều trông mong duy nhất có thể chính là con người.

2. VC và web 2.0

Trong thời kỳ bùng nổ dot-com, các nhà đầu tư mạo hiểm đã hăm hở chi ra những khoản đầu tư rất lớn vào các công ty internet. Khi thị trường sụp đổ phần lớn số tiền họ bỏ ra đều không thu hồi được và do đó có một tâm lý thận trọng khi khái niệm web 2.0 ra đời. Nhiều VC thẳng thừng từ chối đầu tư vào web 2.0, số khác luôn đặt ra câu hỏi “làm thế nào để thu được tiền từ dịch vụ web 2.0 của bạn?“. Gần hai năm đã qua đi và nhiều công ty web 2.0 đã có được những thành công nhất định, các nhà đầu tư mạo hiểm buộc phải xem xét mô hình web 2.0 dưới góc độ khác hơn là các dot-com kiểu mới.

Khi MySpace được mua với giá 500 triệu USD thì ai cũng nghĩ chắc nhà đầu tư bị điên, nhưng bây giờ chắc ai cũng muốn được “điên” như tỷ phú truyền thông Rupert Murdoch vì giá trị của MySpace hiện đã gấp nhiều lần giá tiền mua vào. Còn Facebook, một mạng xã hội web 2.0 tương tự MySpace nhưng tập chung vào đối tượng học sinh/sinh viên, vừa ký hợp đồng quảng cáo trị giá 65 triệu USD với Microsoft. Có thể thấy mô hình kiếm tiền của web 2.0 chủ yếu sẽ là quảng cáo trực tuyến, một thị truờng sẽ có trị giá hơn 20 tỷ USD vào năm 2010 và đang cuớp dần “miềng bánh” của báo chí và TV.

Những mô hình kinh doanh khác của web 2.0 cũng tích cực hướng tới việc kiếm tiền hơn là các dịch vụ web 1.0 miễn phí tiền nhiệm. Phần lớn các web 2.0 cho phép bạn đăng ký và sử dụng miễn phí, nhưng nếu bạn thực sự muốn dùng nó vì mục đích kinh doanh thì các tùy chọn trả tiền sẽ là lựa chọn của bạn vỉ các chức năng thực sự hữu ích của nó.

Khi đầu tư vào web 2.0, các VC chú trọng nhất tới nguyên tắc số 3: “đặt cược vào nài ngựa chứ không đặt cược vào con ngựa”, tức là yếu tố người khởi nghiệp, theo một trong hai kiểu:

  • Đầu tư vào các web 2.0 do những người tiên phong đã có “số má” trong thời kỳ web 1.0 khởi nghiệp. Ví dụ, ShopWiki của Kevin Ryan - cựu CEO của DoubleClick - đã nhận được khoản đầu tư 6,3 triệu USD của Generation Partners.
  • Hoặc đầu tư vào các web 2.0 do những lập trình viên “tay ngang” làm trong thời gian rảnh rỗi như Digg.

3. Bạn có thể và không thể chờ đợi điều gì từ VC?

Hầu hết những ai khởi nghiệp bằng các dịch vụ trên Net đều mong một ngày nào đó nhận được sự đầu tư của VC đơn giản vì không phải ai sinh ra cũng đã là triệu phú. Nhưng bức tranh đó có thực sự toàn màu hồng không? Nếu bạn nhận được đầu tư của VC thì đây là những điều bạn có thể hy vọng:

  1. Tiền (dĩ nhiên), nhưng nó sẽ được rót vào theo nhiều giai đọan tùy theo các mục tiêu đạt được.
  2. Sự thúc đẩy: bạn sẽ không bao giờ được “nghỉ ngơi” cho đến khi hoàn vốn (hay phá sản!). Người của VC ờ trong hội đồng quản trị sẽ luôn nhắc bạn về các mục tiêu phải đạt được nếu bạn muốn được đầu tư tiếp.
  3. Sự tư tin: bạn sẽ tự tin hơn nếu dự án của bạn được đánh giá cao và ông bà ta có câu “mạnh vì gạo, bạo vì tiền” mà!
  4. Sự chú ý: Hầu hết các cuộc đầu tư của VC, đặc biệt là cho web 2.0, đều gây được sự chú ý của giới truyền thông và các giới quan tâm tới internet. Ít nhất, họ sẽ tò mò xem “tại sao cái công ty may mắn ấy lại nhận được hàng triệu đô-la nhỉ?”.
  5. Kinh nghiệm/quan hệ: Hầu hết các công ty được VC là các công ty mới nên kinh nghiệm quản tri và các mối quan hệ còn thiếu. Ở một mức nào đó các VC có thể giúp bạn nếu đó thực sự là một VC mạnh.

Còn đây là những điều không phải lúc nào cũng có thật:

  1. Sự giàu có: mặc dù bạn có thể có hàng triệu đô-la tiền đầu tư nhưng không có nghĩa bạn sẽ giàu có vì bạn không thể tùy tiện tiêu số tiền này và số tiền này thường không được chuyển ngay vào tài khoản công ty bạn cùng một lúc mà theo từng vòng (round) đầu tư (phụ thuộc vào kết quả/mục tiêu mà công ty bạn đạt được). Bạn sẽ chỉ có thể trở nên giàu có khi công ty của bạn cổ phần hóa thành công hay được mua lại (M&A) và thực tế cho thấy không có nhiều công ty đi được tới giai đoạn này.
  2. Sự đảm bảo thành công: Không phải lúc nào sự có mặt của VC trong ban quản trị công ty cũng là điều tốt, hãy cân nhắc kỹ nếu bạn thuộc tuýp người có cá tính mạnh. Ngoài ra, do áp lực thu hồi vốn nhanh, các VC có thể quá “nôn nóng” và làm hỏng kế hoạch kinh doanh của bạn.
  3. Sự phân chia (cổ phần/lợi nhuận) bình đẳng: Nói chung trong giai đoạn khởi điểm các VC sẽ đòi gần phân nửa cổ phần trong công ty bạn. Nhưng một số điều khoản về phân chia tài sản khi công ty bị bán đi (liquidation preferences) có thể làm bạn ngậm ngùi về sau vì các VC thường bảo vệ lợi ich phía họ (không có gì đáng ngạc nhiên) mà không quan tâm tới lới ích của các cổ đông khác. Bạn phải rất thận trọng khi ký kết vào bản hợp đồng đầu tư đầy những rằng buộc và đòi hỏi của VC.
  4. Sự trợ giúp: Đừng hy vọng quá nhiều về sự trợ giúp trong các doanh nghiệp mà VC này đầu tư cho dù các VC có hứa hẹn như vậy. Các công ty đều có các mục tiêu khác nhau và họ chẵng có lý do gì hy sinh vì bạn. VC cũng chỉ hy vọng 30% trong số các dự án họ đầu tư là thành công nên sẽ không có việc “dàn hàng ngang tiến lên”. Câu châm ngôn “hồn ai nấy giữ” luôn đúng trong mọi trường hợp!
  5. Thiên thần đầu tư: Nếu bạn khởi nghiệp với 0$ thì VC không phải là chỗ bạn tìm đến vì họ không phải là các “thiên thần đầu tư” (angel investor - các nhà đầu tư ngay từ khi doanh nghiệp còn ở giai đoạn “trứng nuớc”). Xin lưu ý, theo nguyên tắc 4, VC chỉ đầu tư khi doanh nghiệp của bạn đã qua giai đoạn hình thành.

Tóm lại, chẳng có gì là cho không cả. Nếu bạn chuẩn bị nhận vốn của VC thì hãy chuẩn bị đối mặt với các áp lực và có thể cả mất mát. Bạn phải học cách làm việc với nhà đầu tư VC sao cho vừa đảm bảo kế hoạch kinh doanh của mình không bị bóp méo trong khi vẫn thỏa mãn các mục tiêu đã ký kết. Cuối cùng, không phải mọi VC đều giống nhau, hãy chọn nhà đầu tư tâm huyết và thông hiểu dự án của bạn nhất, thiếu điều này mọi sự hợp tác và tiền bạc đều sẽ thành vô nghĩa.

8 định nghĩa về Web 2.0?

Căn bản August 24th, 2006


Báo điện tử VNExpress vừa cho đăng bài viết 8 định nghĩa về web 2.0, phản ánh các quan điểm khác nhau về xu hướng này, xin đọc ở đây. Dưới đây là quan điểm của tôi về các định nghĩa này.

  1. Trí thông minh của số đông: Định nghĩa này đề cập đến những trang như Digg (cho phép mọi người tự giới thiệu và đánh giá sức hút, giá trị của một câu chuyện, một bài viết…) hoặc như Google Search (xếp hạng tầm quan trọng của một trang web phụ thuộc vào số lượng và chất lượng các đường link trỏ tới trang đó). Nhưng định nghĩa trên không thể được áp dụng cho Google Maps hay bất cứ mô hình phần mềm dịch vụ SaaS nào như Basecamp (công cụ web cho phép quản lý các dự án), Writely (trình xử lý văn bản trực tuyến), 30boxes (nhật ký lịch trình công việc trên web)…

    Có thể hiểu là trí tuệ tập thể (collective intelligence). Nhưng sao không đề cập tới Wikipedia?

  2. Các ứng dụng web chia sẻ: Quan niệm này đối lập với định nghĩa đầu tiên nhưng lại tương ứng với những chương trình như Basecamp và Writely. Tuy nhiên cụm từ “ứng dụng” không phải lúc nào cũng chính xác. Chẳng hạn, người ta có thể gọi Google Search là một ứng dụng web, nhưng MySpace - cũng thuộc xu thế Web 2.0 - lại không thể được coi là “ứng dụng” bởi nếu thế thì mọi website đều trở thành ứng dụng cả.

    Tôi không đồng ý khi cho rằng MySpace không phải là ứng dụng web. Mọi website không phải đều là ứng dụng web (như VNExpress không phải là ứng dụng vì nó không thực sự có một chức năng “ứng dụng” nào cho người dùng cả), nhưng chắc chắn có thể coi MySpace là ứng dụng web vì nó giúp người dùng thực hiện nhiều việc hơn là… đọc báo.

  3. Web hoạt động như một nền tảng: Khi đưa ra giải thích này, Tim O’Reilly, Giám đốc điều hành công ty O’Reilly Media (Mỹ), ám chỉ các dịch vụ không thể tồn tại mà không có web như eBay, Craigslist, Wikipedia, del.icio.us, Skype và Dodgeball. Nhưng nếu thế mọi cộng đồng trực tuyến khác đều có thể được xếp vào mục này. Nói cách khác, định nghĩa về Web 2.0 này quá rộng.

    Rõ ràng web đang hoạt động như một nền tảng, hay nói chính xác hơn là một hệ thống hỗ tương (ecosystem). Các dịch vụ web sẽ ngày càng phụ thuộc vào nhau hơn, đây là một điều tốt vì chẳng ai có thể làm hết mọi thứ (…trừ Microsoft (!))

  4. Sự tham gia của người sử dụng: Lý giải này nhấn mạnh sụ khác biệt giữa website truyền thống và những dịch vụ mới như YouTube, Flickr và OhMyNews - nơi người đọc và xem nội dung cũng là người đóng góp thông tin - nhưng lại “bỏ rơi” mất các dịch vụ SaaS.

    Tôi không mặn mà lắm với SaaS (mô hình phần mềm hướng dịch vụ) theo định nghĩa nguyên thủy của nó. Web 2.0 có thể coi là một kiểu SaaS nhưng không hoàn toàn, phạm trù của nó bao phủ lên khái niệm này hơn là “bỏ rơi” nó.

  5. Khả năng tương tác và tính năng phong phú: Công nghệ AJAX, CSS… cho phép tạo ra các trang web động, có thể hiển thị đa dạng thông tin hơn. Nhưng rõ ràng MySpace hiện là một trong số những website ít “phong phú” nhất. Ngay cả Google Search, trước khi được trang bị khả năng dự đoán từ khóa hồi đầu năm nay, cũng không sử dụng bất cứ công nghệ “tuyệt vời” nào phía trên cả.

    Rõ ràng công nghệ riêng nó không tạo nên web 2.0 như tôi đã đề cập trong bài viết Nhận dạng web 2.0, nhưng đó là sự lựa chọn tất yếu. Hầu hết các dịch vụ của Google (mail, calendar, analytics…) sau này đều “đậm” các công nghệ nói trên.

  6. Một thuật ngữ được marketing rầm rộ: Đây là suy nghĩ của những người theo chủ nghĩa hoài nghi. Họ cho rằng người hâm mộ và cả các công ty thương mại đứng đằng sau Google Search, Amazon, eBay và Craigslist đã tán tụng chúng quá đà.

    Xin xem thêm bài Tiên đề của web 2.0 về khái niệm Hype.

  7. Lúc nào cũng là bản Beta: Thực ra định nghĩa này là một lời khen ngợi, ý nói các ứng dụng công nghệ Web 2.0 sẽ không bao giờ có “phiên bản chính thức” vì chúng luôn được cập nhật và đổi mới. Đa số các dịch vụ của Google vẫn trong giai đoạn thử nghiệm. Flickr cứ 30 phút lại được thay đổi, chỉnh sửa còn MySpace và nhiều mạng xã hội khác cũng mở rộng tăng tính năng mới vài tuần một lần. Nhưng hệ điều hành Windows và Mac OS vẫn được vá lỗi hàng tháng, chương trình diệt virus cũng liên tục cập nhật mỗi ngày dù chúng đâu có thuộc Web 2.0.

    Cá nhân tôi thích các bản Beta hoàn thiện hơn là các bản chính thức đầy lỗi.

  8. Chẳng là gì cả: Đây là một trong những câu trả lời phổ biến nhất trong các cuộc khảo sát về Web 2.0. Đối với nhiều người sử dụng, các ứng dụng, website, dịch vụ thế hệ mới thực chất chỉ là sự kết hợp lại những tính năng đã có sẵn từ trước. Hơn nữa, Web 2.0 còn quá non trẻ để người ta có thể tin tưởng nó sẽ trở thành “một cái gì đó” quan trọng.

    Thực vậy thì các anh còn viết về nó làm gì???

Nhìn lại, tôi không cho rằng đây là 8 định nghĩa mà chỉ là các mảng khái niệm về Web 2.0 (còn nhiều tranh cãi) và nếu thế thì có thể có 16 hay 32 định nghĩa như vậy.

Nhận dạng Web 2.0

Căn bản August 24th, 2006


Một bạn đã hỏi tôi một câu hỏi thú vị: “Làm sao để phân biệt được đâu là trang web 2.0 và đâu là trang web 1.0?” Đây là một vài điểm dễ nhận thấy nhất.

1. Lắng nghe phương tiện truyền thông

Nhìn chung sự ra đời của các trang web không còn là một sự kiện với bất kỳ ai (vì mỗi ngày có hàng nghìn trang web mới ra đời) trừ phi đó là Web 2.0.

Các trang web 2.0 luôn nhận được nhiều bình luận, đánh giá vì hoặc nó là một dịch vụ mới hoặc nó là đối thủ cạnh tranh với các “ông lớn” như Yahoo, Google, Microsoft. Hơn nữa, những người ưu chuộng kỹ thuật thường cảm thấy thú vị khi làm việc trên một trang web 2.0 hơn các trang web truyền thống và đây cũng là những người hay viết các bình luận, giới thiệu nhất.

2. Xem xét thiết kế

Các trang web 2.0 thường tránh xa kiểu thiết kế 3 cột đầy vẻ “đạo mạo” truyền thống mà sử dụng các mảng nội dung rất nghệ thuật. Đặc biệt các thành phần trên trang web thường có kiểu cạnh tròn (rounded-corner) và đổ bóng nhằm tạo nên một bố cục “mượt mà” hơn. Các trang web 2.0 rất dễ nhận vì có tính biểu tượng cao, giao diện sáng sủa, dễ định hướng. Ví dụ, Clipmarks - một dịch vụ web 2.0 lấy biểu tượng là cái kẹp giấy (điện tử) giúp người dùng đánh dấu, chia sẻ các bài viết ưa thích - có một trang chủ rất điển hình:


Hình 1: Trang chủ Clipmarks - một thiết kế web 2.0 điển hình

Về mặt kỹ thuật thiết kế web, các trang web 2.0 rời bỏ kiểu layout bằng table mà thay vào đó là dùng stylesheet (CSS). Mục tiêu là có thể tùy biến giao diện theo ngữ cảnh hay ý thích của người dùng và tương thích tiêu chuẩn web mới nhất. Các trang web 2.0 phải chạy tốt trên Firefox!

3. Nhanh nhẹn với Ajax + Javascript

Ai đã dùng Gmail thì hẳn nhận thấy sự khác biệt về tốc độ so với Yahoo!Mail, đặc biệt khi nhấn nút “Reply”, phần trả lời của GMail hiện lên tức thì thay vì phài tải cả trang web mới như Yahoo!Mail. Sự khác biệt này là do GMail ứng dụng các công nghệ mới nhất của Web như AJAX và một loạt các kỹ thuật mới sử dụng Javascript (phiên bản Yahoo!Mail mới đang trong giai đọan thử nghiệm cũng là một trang web “đậm đặc” AJAX và dùng không khác gì Outlook!).

Các trang web 2.0 đều tận dụng các công nghệ mới này giúp cho người dùng không còn phải “dài cổ” đợi trang web tải lại sau mỗi thao tác. Bạn sẽ thấy ngay nội dung tóm tắt khi di con trỏ chuột lên một liên kết và có thể viết bình luận rồi gửi đi ngay mà không thấy có bất kỳ sự “xao động” nào trên trang web. Nhiều trang web cho phép bạn kéo và thả các mục nội dung vào những nơi tùy ý… Tóm lại, những thứ “xa xỉ” nhất mà bạn có thể làm trên các ứng dụng desktop thì giờ đây bạn có thể thực hiện trên web 2.0.

4. Bạn là người làm chủ nội dung

Cái cuối cùng mà cũng là cái cốt lõi nhất để tạo nên một dịch vụ web 2.0 là việc bạn chính là người tạo nên nội dung cho trang web đó (hoặc tối thiểu là phần nội dung chính của trang web). Thiếu đi điều này thì trang web dù có được thiết kế “cool” đến đâu, có ứng dụng nhiều kỹ thuật đến đâu cũng chưa thể coi là web 2.0. Ví dụ trang từ điển Ajax của tôi chỉ có thể thỏa mãn về phần thiết kế và kỹ thuật, nhưng không thể coi là web 2.0 vì nội dung của nó vẫn là những cái có sẵn, bạn không thể bổ xung các mục từ mới hay tạo ra một cuốn từ điển cho riêng mình (hmm, tôi sẽ phải biến nó thành web 2.0 vào một ngày đẹp trời nào đó…???).


Hình 2: Từ điển Fast Dictionary - ứng dụng nhiều kỹ thuật web mới
nhưng chưa phải là web 2.0


Trên đây là một vài điểm “nhận dạng” cho một dịch vụ web 2.0. Nhưng xin đừng hiểu lầm rằng web 2.0 chỉ đơn giản có thế, nếu bạn muốn tạo ra một web 2.0 thì chắc chắn bạn sẽ phải tìm hiểu nhiều hơn là chỉ đọc cuốn “Thiết kế web bằng Macromedia trong 24h”!

Tiên Đề Của Web 2.0

Căn bản August 22nd, 2006


1. Web 2.0 là hype?

Hype — dùng để chỉ cái gì đó mà được quảng cáo quá nhiều, quá cường điệu — nhưng ở mặt khác nó chỉ một sự kiện mới, rất được chú ý và nhận rất nhiều bình luận từ nhiều phía.

Web 2.0 là để chỉ một làn sóng mới như thế. Số phiên bản 2.0 có thể hiểu là “giai đoạn thứ 2 của web”, đối nghịch với nó là các websites được ra đời trong thời kỳ dotcom và trước đó.

Nó là hype? Có thể, nhưng Del.icio.us, trang Web giúp bạn lưu các địa chỉ web ưa thích, vừa được bán cho Yahoo với giá ước tính 20 triệu USD. Flickr.com, một dịch vụ Web 2.0 giúp các bạn upload hình ảnh và chia sẻ với bạn bè, cũng được Yahoo mua lại của các LTV Ấn Độ, đang đóng góp hơn 10% vào doanh thu của Yahoo. Các quĩ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital) đang đổ nhiều triệu USD vào các dịch vụ Web 2.0 và nhiều dịch vụ Web 2.0 đã vượt qua điểm hòa vốn ngay khi ra đời. Nó là hype? Có thể, nhưng nếu bạn biết cách cưỡi lên trên cái hype này, bạn có thể sẽ là người làm một Million Dollar Homepage tiếp theo. Còn nếu may mắn hơn bạn có thể bán một MySpace.com mới của mình cho một ông trùm truyền thông nào đó với giá nửa tỷ USD!

2. Vậy bản chất của Web 2.0 là gì?

Bản chất của Web 2.0 là gì? Tại sao nó ra đời và nó có gì khác với cái gọi là Web 1.0?

Để trả lời các câu hỏi này chúng ta sẽ xem xét hai dịch vụ web nổi tiếng mà chắc các bạn đều biết (nhưng có thể kg nghĩ đó là Web 2.0) là:

(1) Wikipedia: từ điển bách khoa trực tuyến.
(2) Blog: dịch vụ cho phép bạn đưa các bài viết, ý kiến của mình lên Web.

Đây đều không phải là các “phát kiến” mới về công nghệ. Trước khi có Wikipedia, chúng ta có thể sử dụng cuốn từ điển bách khoa online Britannica, truớc khi dùng Blog không ai cấm bạn tạo một website cá nhân để làm điều tương tự. Vậy cái gì làm nên sự khác biệt? Tại sao cả thế giới nhắc tới Wikipedia mà gần như quên lãng Britannica? Tại sao không ai làm riêng cho mình website nữa kể từ khi Blog ra đời? Chính vì cách tiếp cận của hai dịch vụ này hòan toàn khác với các dịch vụ “tiền nhiệm”.

Bạn có thể nhận thấy, cả hai dịch vụ này đều cho phép người dùng tự viết cái mà họ muốn. Bạn có thể tham gia định nghĩa các từ/cụm từ mà bạn có hiểu biết trên Wikipedia. Ngược lại, với Britannica, bạn phải chấp nhận định nghĩa được viết bởi “ai đó”. Dù người viết có là chuyên gia thì đôi khi bạn cũng kg thỏa mãn với cách định nghĩa, giải thích của họ. Mặt khác, kiến thức của nhân loại là vô tận, các khái niệm mới ra đời hàng ngày, không có cuốn từ điển bách khoa viết sẵn nào có thể bao phủ hết, chỉ có sự tham gia của hàng triệu con người trên toàn thế giới mới đảm đương nổi. Ví dụ rõ ràng nhất là nếu bạn tìm cụm từ “Web 2.0” trên Britannica thì chắc bạn sẽ thất vọng, nhưng bạn có thể xem định nghĩa về “Web 2.0” trên Wikipedia ở đây: http://en.wikipedia.org/wiki/Web_2.0. Khả năng cập nhật nhanh chóng và kết hợp trí tuệ của nhiều người đã biến Wikipedia thành cuốn từ điển bách khoa phong phú nhất trong lịch sử loài người.

Chúng ta sẽ nói thêm một chút vế Blog. Đây là chữ viết tắt của Weblog, nơi bạn có thể viết các bài, ý kiến về các chủ đề mình muốn và người đọc cũng có thể đưa ra các bình luận, đánh giá về bài viết hay ý kiến của mình ngay phía dưới.

Khỏi cần phải nói ảnh hưởng của Blog với khái niệm “xuất bản”, mọi người đều có thể tự xuất bản, tự bình luận, tự đánh giá và lắng nghe ý kiến phản hồi của mọi người. Khi các sự kiện nóng bỏng trên thế giới diễn ra như cuộc chiến Iraq hay cơn bão Katrina, blog trở thành nơi cập nhật tin tức xác thực nhất, không bị ảnh hưởng của cách làm “báo chí”, blog cũng là nơi chia sẻ những mất mát, những nỗi đau. Tất nhiên, bạn có thể mở một Blog để mừng đứa con mới ra đời của mình hay kỷ niệm ngày tốt nghiệp nơi các bạn bè cùng khóa có thể nhắn gửi vài dòng về tình cảm và chí hướng của minh.

Có thể nói, Wikipedia và Blog là hai tiên đề để cho khái niệm “Web 2.0” ra đời.

Tóm lại, tiên đề của Web 2.0 là:

(1) Web 2.0 = Tự Biên Tập (self-editing)
(2) Web 2.0 = Trí Tuệ Tập Thể (collective intelligence)


(Theo javaeater - Javavietnam.org)