Web 2.0 Vietnam Logo

Thời Của Các “Hệ Sinh Thái”

Nhận định February 14th, 2011


Trong bức memo nổi tiếng (xem bản dịch ở đây) gửi nhân viên của giám đốc điều hành Nokia mới rò rỉ gần đây đã thừa nhận sự thất bại của công ty sản xuất ĐTDĐ nổi danh này trong các phân khúc cao và trung cấp là do các hệ sinh thái (ecosystem) mà các đối thủ non trẻ của họ trong lĩnh vực di động là Apple và Google xây dựng thành công.

Tôi vẫn nhớ những chiếc điện thoại Nokia đầu tiên mình đã dùng: tin cậy, chắc chắn và tiện lợi. Điều thú vị nhất là nó được thiết kế rất tốt, rất ít khi mất sóng và khi sử dụng thành thạo bạn hoàn toàn có thể vừa nhắn tin vừa lái xe máy trên các con đường đông đúc (nhưng việc có thể không có nghĩa là việc nên làm). Mọi chuyện khi ấy rất thuận lợi với Nokia, họ có thị áp đảo trên toàn cầu, uy tín của nhà sản xuất ĐTDĐ số một cả về phần cứng lẫn phần mềm. Vâng, cùng thời gian đó, ở nước Mỹ, người ta vẫn dùng những chiếc ĐTDĐ lạc hậu vài thế hệ so với châu Âu và Nokia thậm chí không thèm cố gắng đặt chân vào thị trường này bằng cách thỏa hiệp với các Telco “rắn mặt” ở đó.

Năm 2007, đột ngột có một siêu phẩm ra đời, không phải từ nước Nhật — quê hương của những chiếc điện thoại “khủng” có thể làm-đủ-mọi-thứ — mà lại từ chính vùng trũng của thế giới di động, nước Mỹ: đó chính là chiếc iPhone huyền thoại. Nhưng lúc đó không ai nhìn thấy sự đe dọa đáng kể nào từ chiếc điện thoại xinh xắn này, bất quá nó cũng chỉ là món đồ thời trang đắt tiền cho dân sính hàng công nghệ. Thế giới không hề biết ẩn sau thiết bị nhỏ nhắn ấy là cả một “âm mưu hiểm độc” của Apple: xây dựng một ecosystem, định nghĩa lại khái niệm smartphone.

Nhờ sự nhạy bén (và có thể một chút may mắn), Google, lại là người phản ứng nhanh nhất trước sự đe dọa của hệ sinh thái quanh thiết bị di động này. Năm 2008, họ cùng 14 công ty khác công bố việc phát triển hệ điều hành Android mở và miễn phí, ai cũng biết rằng đó là câu trả lời cho hệ sinh thái bắt đầu hình thành của Apple qua việc ra đời App Store cùng năm ấy. Tròn hai năm sau đó, vào tháng 6 năm 2010, App Store đã có 225.000 ứng dụng và hơn 5 tỷ lượt tải về, lúc này mọi smartphone không chỉ được đánh giá qua những phần mềm cài sẵn trong đó mà còn qua số ứng dụng người dùng có thể cài vào đó. Dù không nổi tiếng bằng, đối thủ của App Store trên nền tảng Android là App Market cũng đạt con số 200.000 ứng dụng vào cuối năm 2010; đây cũng là năm số ĐTDĐ chạy HĐH Android bùng nổ, trở thành nền tảng phổ biến nhất cho smartphone.

Nokia bắt đầu tìm cách đối đầu với những thế lực mới nổi lên bằng cách mua lại HĐH Symbian vào cuối năm 2008 và phát triển các phiên bản riêng cho các dòng smartphone của họ như Nokia 5800 hay N8 gần đây… Họ cũng muốn xây dựng một hệ sinh thái riêng bằng việc cho ra đời Ovi Store vào tháng 5 năm 2009 (tuy nhiên, Ovi Store không dành riêng cho dòng smartphone của Nokia mà có cả ringtone, theme… cho các dòng điện thoại “cổ” khác như Series 40, S60). Và như các bạn đã biết, các nỗ lực này đều thất bại với việc thị phần phân khúc điện thoại cao cấp và trung cấp của Nokia ngày càng thu hẹp nhanh chóng. Trong bức memo nói trên, CEO Stephen Elop đã gọi nền tảng mà Nokia theo đuổi là “nền tảng đang cháy rụi” (burning platform) và so sánh nó với giàn khoan dầu đang sụp đổ. Symbian thực sự đã quá giá cỗi để kéo dài sự sinh tồn còn HĐH MeeGo, một cố gắng khác cùng Intel, thì là dấu hỏi lớn về khả năng tạo ra hệ sinh thái quanh nó.

Nokia đang đứng ở ngã ba đường: hoặc dùng Android, một hệ sinh thái đã hình thành đầy đủ và đối mặt với một rừng các đối thủ như Motorola, HTC, Samsung, LG, Sony Ericsson… hay đi theo Microsoft, một gã khổng lồ chậm chân khác, với Windows Phone 7 (FYI, Nokia cuối cùng đã chọn Microsoft làm đối tác chiến lược). Tuy nhiên bài này không dành cho việc phân tích thất bại của Nokia (theo tôi gốc rễ là ở khả năng tự đổi mới và sáng tạo của công ty này) mà nói về các hệ sinh thái xung quanh các nền tảng phần mềm.

Nếu máy tính của bạn đang chạy Windows thì đó chính là một trong những hệ sinh thái lớn nhất, thành công nhất trong lịch sử công nghệ thông tin. Vô số phần mềm và phần cứng đã hưởng lợi quanh sự lớn mạnh của Windows và Microsoft, công ty sở hữu hệ sinh thái này, đã trở thành công ty phần mềm lớn nhất thế giới.

Blog này có được cũng nhờ một hệ sinh thái khác: WordPress. Hàng ngàn plugin và vô số các theme được phát triển/thiết kế cho hệ sinh thái WordPress tạo nên một nền tảng blogging tuyệt vời, uyển chuyển đồng thời tạo cơ hội kiếm tiền cho rất nhiều lập trình viên, designer.

Cũng không thể không nhắc tới hệ sinh thái quanh Facebook, mạng xã hội có hơn 500 triệu người dùng. Bằng việc cho phép tạo ra các ứng dụng, game, FanPage… gắn vào nền tảng của mình, Facebook đã trở thành một nền tảng truyền thông, giải trí và cả kinh doanh cực kỳ quan trọng trong xã hội ngày nay.

Lịch sử cho thấy nếu bạn ra một phần mềm hay dịch vụ web đơn lẻ dù nó có xuất sắc tới đâu thì bạn cũng luôn phải đối mặt với một sự nguy hiểm to lớn là ngày mai có thể bạn sẽ bị qua mặt bởi một đối thủ làm tốt hơn bạn về sản phẩm hay về giá thành. Chỉ có những hệ thống có hệ sinh thái phát triển quanh nó là có khả năng tồn tại cao vì nó sẽ chỉ bị đe dọa bởi một hệ sinh thái khác tốt hơn hẳn và ngay trong trường hợp đó việc chuyển đổi từ hệ sinh thái này qua hệ khác cũng vô cùng đắt giá với người dùng.

Hệ sinh thái làm cho sản phẩm của bạn có thể đáp ứng với vô số tình huống sử dụng trên thực tế trong khi bạn không phải phân tán nguồn lực để làm những chức năng râu ria. Nó làm tăng giá trị của sản phẩm bạn không phải theo cấp số cộng mà theo cấp số nhân. Nó giúp bạn gia tăng khoảng cách với các đối thủ, buộc các đối thủ phải theo cuộc chơi mà bạn là người viết luật và loại bỏ những nỗ lực quấy rối (disrupt) đơn lẻ.

Tóm lại, một khi bạn có thể biến sản phẩm của mình thành một nền tảng và xây dựng thành công hệ sinh thái cho nó, bạn sẽ có vị trí thuận lợi để tiến tới thống trị thị trường hay chí ít cũng làm cho các đối thủ hùng mạnh mất ăn, mất ngủ. Twitter thành công vì họ chú trọng việc phát triển hệ sinh thái quanh hệ thống tin tức 140 ký tự của mình ngay từ lúc khởi phát.  Ngày nay, bạn có thể dùng Twitter từ gần như bất kỳ thiết bị có kết nối Internet nào và đây là một đảm bảo vững chắc cho sự tồn tại của dịch vụ này. Firefox, từ một dự án tưởng như đã chết, đã trở thành mối đe dọa lớn cho trình duyệt từng chiếm ưu thế tuyệt đối về thị phần là Internet Explorer phần lớn nhờ hệ thống  add-on của nó.

Tuy nhiên, xây dựng một sản phẩm thì là việc tương đối dễ, xây dựng một hệ sinh thái là việc khó khăn hơn nhiều. Theo tôi, để chuẩn bị cho một hệ sinh thái chúng ta cần:

  1. Suy nghĩ về nó từ sớm, tốt nhất là ngay khi hình thành ý tưởng về sản phẩm của mình.
  2. Làm API hay cơ chế plugin cho sản phẩm/dịch vụ của mình càng sớm càng tốt. Không nên làm API để cho có, nó phải thực sự dễ nắm bắt, đầy đủ nhưng không chồng chéo, dư thừa. Bản thân mình phải tham gia phát triển các dịch vụ bổ sung để thấy được các vấn đề từ API/cơ chế plugin của chính mình.
  3. Có cơ chế khuyến khích các LTV tham gia vào hệ sinh thái của mình (đây là phần khó nhất và quan trọng nhất)
  4. Đảm bảo hệ thống không bị “chết” (quá tải, chậm chạp) vì chính hệ sinh thái của mình

Xây dựng hệ sinh thái thành công cũng chính là một cách xây dựng để trường tồn. Tại Việt Nam, Zing Me là dịch vụ chú trọng nhiều tới việc phát triển hệ sinh thái cho mình từ ban đầu và đã thu được một số thành quả. LinkHay cũng ra một bộ API khá hoàn chỉnh để hướng tới việc đưa LinkHay tới mọi thiết bị. Có thể việc xây dựng các hệ sinh thái quanh sản phẩm của các công ty Việt Nam không thuận lợi như các dịch vụ danh tiếng trên thế giới nhưng tôi tin đó là con đường đúng đắn, phù hợp với xu hướng chung và là sự đảm bảo sự tồn tại của chính mình trước các thế lực mới trong và ngoài nước.