Web 2.0 Vietnam Logo

Đầu tư mạo hiểm – Họ là ai?

Căn bản, Đầu tư mạo hiểm (VC) August 29th, 2006


Với nhiều người các quĩ đầu tư mạo hiểm (venture capital) là các nhà đầu tư đầy vẻ bí hiểm. Vậy họ là ai? Bạn có thể mong chờ gì ở họ và ngược lại họ mong chờ gì từ bạn?

Michael Arrington – Thủ lĩnh của các nhà đầu tư mạo hiểm vào web 2.0

Nói chung mọi cuộc đầu tư đều có không ít thì nhiều mạo hiểm. Trong tiếng Anh, hình thức liên doanh được hiểu là joint-venture, tức là “cùng mạo hiểm“, tuy nhiên, các quĩ đầu tư mạo hiểm (từ nay tôi sẽ dùng chữ viết tắt VC – Venture Capital) có hình thức đầu tư hơi khác với các quĩ đầu tư thông thường. Các VC đã tồn tại từ lâu, nhưng vai trò của họ đặc biệt nổi bật trong thời kỳ bùng nổ của Internet và bây giờ là trong làn sóng Web 2.0 do phong cách đầu tư “thoáng” của mình. Chúng ta sẽ tìm hiểu các nguyên tắc đầu tư của VC, cách nhìn nhận của họ với web 2.0 và những điều bạn có thể cũng như không thể hy vọng từ VC.

1. Nguyên tắc của Georges Doriot

Có thể coi Georges Doriot là cha đẻ của các VC. Năm 1946, ông lập một công ty American Research and Development Corporation và bắt đầu nghiên cứu hàng ngàn đề án kinh doanh rồi chọn ra những cái tốt nhất để đầu tư. Trong cuốn “Căn bản về đầu tư mạo hiểm“, Joseph W. Bartlett đã tổng kết các nguyên tắc đầu tư của Doriot. Đây là những điều kiện cho một cuộc đầu tư mạo hiểm:

  1. Dự án phải có công nghệ mới, ý tưởng marketing mới và các sản phẩm mới có khả năng ứng dụng trong cuộc sống.
  2. Nhà đầu tư phải có vai trò quan trọng, nhưng không nhất thiết là vai trò chi phối, trong các quyết định quản trị của công ty được đầu tư.
  3. Đầu tư vào những dự án của những người có quyết tâm và kiên định (nguyên tắc “đặt cược vào nài ngựa chứ không đặt cược vào con ngựa”).
  4. Sản phẩm hoặc dịch vụ tối thiểu phải đã qua giai đoạn định hình và có bảo vệ bằng pháp lý như bản quyền, bằng phát minh, sáng chế…
  5. Sản phẩm hoặc dịch vụ có triển vọng sẽ phát triển đầy đủ trong vòng vài năm (lý tưởng là 3 -5 năm) để có thể cổ phần hóa. (người ta gọi đây là chiến lược “hạ cánh an toàn” – exit strategy).
  6. Nhà đầu tư có cơ hội đóng góp vào công ty những “giá trị gia tăng” khác ngoài tiền bạc.

Có thể thấy, khác với các quĩ đầu tư thông thường, các VC chỉ đòi hỏi những cái thuộc về ý tưởng và triển vọng. Bạn không nhất thiết phải trình ra các báo cáo lãi lỗ hay bảng cân đối kế toán của công ty mình (mặc dù thực ra họ vẫn nghiên cứu kỹ các báo cáo tài chính của các công ty đầu tư vào trong phần lớn trường hợp). Câu cửa miệng của các VC là “chúng tôi đầu tư vào con người“, vâng, họ nói thật vì nếu không có các báo cáo lãi lỗ hay bảng cân đối kế toán đẹp đẽ thì điều trông mong duy nhất có thể chính là con người.

2. VC và web 2.0

Trong thời kỳ bùng nổ dot-com, các nhà đầu tư mạo hiểm đã hăm hở chi ra những khoản đầu tư rất lớn vào các công ty internet. Khi thị trường sụp đổ phần lớn số tiền họ bỏ ra đều không thu hồi được và do đó có một tâm lý thận trọng khi khái niệm web 2.0 ra đời. Nhiều VC thẳng thừng từ chối đầu tư vào web 2.0, số khác luôn đặt ra câu hỏi “làm thế nào để thu được tiền từ dịch vụ web 2.0 của bạn?“. Gần hai năm đã qua đi và nhiều công ty web 2.0 đã có được những thành công nhất định, các nhà đầu tư mạo hiểm buộc phải xem xét mô hình web 2.0 dưới góc độ khác hơn là các dot-com kiểu mới.

Khi MySpace được mua với giá 500 triệu USD thì ai cũng nghĩ chắc nhà đầu tư bị điên, nhưng bây giờ chắc ai cũng muốn được “điên” như tỷ phú truyền thông Rupert Murdoch vì giá trị của MySpace hiện đã gấp nhiều lần giá tiền mua vào. Còn Facebook, một mạng xã hội web 2.0 tương tự MySpace nhưng tập chung vào đối tượng học sinh/sinh viên, vừa ký hợp đồng quảng cáo trị giá 65 triệu USD với Microsoft. Có thể thấy mô hình kiếm tiền của web 2.0 chủ yếu sẽ là quảng cáo trực tuyến, một thị truờng sẽ có trị giá hơn 20 tỷ USD vào năm 2010 và đang cuớp dần “miềng bánh” của báo chí và TV.

Những mô hình kinh doanh khác của web 2.0 cũng tích cực hướng tới việc kiếm tiền hơn là các dịch vụ web 1.0 miễn phí tiền nhiệm. Phần lớn các web 2.0 cho phép bạn đăng ký và sử dụng miễn phí, nhưng nếu bạn thực sự muốn dùng nó vì mục đích kinh doanh thì các tùy chọn trả tiền sẽ là lựa chọn của bạn vỉ các chức năng thực sự hữu ích của nó.

Khi đầu tư vào web 2.0, các VC chú trọng nhất tới nguyên tắc số 3: “đặt cược vào nài ngựa chứ không đặt cược vào con ngựa”, tức là yếu tố người khởi nghiệp, theo một trong hai kiểu:

  • Đầu tư vào các web 2.0 do những người tiên phong đã có “số má” trong thời kỳ web 1.0 khởi nghiệp. Ví dụ, ShopWiki của Kevin Ryan – cựu CEO của DoubleClick – đã nhận được khoản đầu tư 6,3 triệu USD của Generation Partners.
  • Hoặc đầu tư vào các web 2.0 do những lập trình viên “tay ngang” làm trong thời gian rảnh rỗi như Digg.

3. Bạn có thể và không thể chờ đợi điều gì từ VC?

Hầu hết những ai khởi nghiệp bằng các dịch vụ trên Net đều mong một ngày nào đó nhận được sự đầu tư của VC đơn giản vì không phải ai sinh ra cũng đã là triệu phú. Nhưng bức tranh đó có thực sự toàn màu hồng không? Nếu bạn nhận được đầu tư của VC thì đây là những điều bạn có thể hy vọng:

  1. Tiền (dĩ nhiên), nhưng nó sẽ được rót vào theo nhiều giai đọan tùy theo các mục tiêu đạt được.
  2. Sự thúc đẩy: bạn sẽ không bao giờ được “nghỉ ngơi” cho đến khi hoàn vốn (hay phá sản!). Người của VC ờ trong hội đồng quản trị sẽ luôn nhắc bạn về các mục tiêu phải đạt được nếu bạn muốn được đầu tư tiếp.
  3. Sự tư tin: bạn sẽ tự tin hơn nếu dự án của bạn được đánh giá cao và ông bà ta có câu “mạnh vì gạo, bạo vì tiền” mà!
  4. Sự chú ý: Hầu hết các cuộc đầu tư của VC, đặc biệt là cho web 2.0, đều gây được sự chú ý của giới truyền thông và các giới quan tâm tới internet. Ít nhất, họ sẽ tò mò xem “tại sao cái công ty may mắn ấy lại nhận được hàng triệu đô-la nhỉ?”.
  5. Kinh nghiệm/quan hệ: Hầu hết các công ty được VC là các công ty mới nên kinh nghiệm quản tri và các mối quan hệ còn thiếu. Ở một mức nào đó các VC có thể giúp bạn nếu đó thực sự là một VC mạnh.

Còn đây là những điều không phải lúc nào cũng có thật:

  1. Sự giàu có: mặc dù bạn có thể có hàng triệu đô-la tiền đầu tư nhưng không có nghĩa bạn sẽ giàu có vì bạn không thể tùy tiện tiêu số tiền này và số tiền này thường không được chuyển ngay vào tài khoản công ty bạn cùng một lúc mà theo từng vòng (round) đầu tư (phụ thuộc vào kết quả/mục tiêu mà công ty bạn đạt được). Bạn sẽ chỉ có thể trở nên giàu có khi công ty của bạn cổ phần hóa thành công hay được mua lại (M&A) và thực tế cho thấy không có nhiều công ty đi được tới giai đoạn này.
  2. Sự đảm bảo thành công: Không phải lúc nào sự có mặt của VC trong ban quản trị công ty cũng là điều tốt, hãy cân nhắc kỹ nếu bạn thuộc tuýp người có cá tính mạnh. Ngoài ra, do áp lực thu hồi vốn nhanh, các VC có thể quá “nôn nóng” và làm hỏng kế hoạch kinh doanh của bạn.
  3. Sự phân chia (cổ phần/lợi nhuận) bình đẳng: Nói chung trong giai đoạn khởi điểm các VC sẽ đòi gần phân nửa cổ phần trong công ty bạn. Nhưng một số điều khoản về phân chia tài sản khi công ty bị bán đi (liquidation preferences) có thể làm bạn ngậm ngùi về sau vì các VC thường bảo vệ lợi ich phía họ (không có gì đáng ngạc nhiên) mà không quan tâm tới lới ích của các cổ đông khác. Bạn phải rất thận trọng khi ký kết vào bản hợp đồng đầu tư đầy những rằng buộc và đòi hỏi của VC.
  4. Sự trợ giúp: Đừng hy vọng quá nhiều về sự trợ giúp trong các doanh nghiệp mà VC này đầu tư cho dù các VC có hứa hẹn như vậy. Các công ty đều có các mục tiêu khác nhau và họ chẵng có lý do gì hy sinh vì bạn. VC cũng chỉ hy vọng 30% trong số các dự án họ đầu tư là thành công nên sẽ không có việc “dàn hàng ngang tiến lên”. Câu châm ngôn “hồn ai nấy giữ” luôn đúng trong mọi trường hợp!
  5. Thiên thần đầu tư: Nếu bạn khởi nghiệp với 0$ thì VC không phải là chỗ bạn tìm đến vì họ không phải là các “thiên thần đầu tư” (angel investor – các nhà đầu tư ngay từ khi doanh nghiệp còn ở giai đoạn “trứng nuớc”). Xin lưu ý, theo nguyên tắc 4, VC chỉ đầu tư khi doanh nghiệp của bạn đã qua giai đoạn hình thành.

Tóm lại, chẳng có gì là cho không cả. Nếu bạn chuẩn bị nhận vốn của VC thì hãy chuẩn bị đối mặt với các áp lực và có thể cả mất mát. Bạn phải học cách làm việc với nhà đầu tư VC sao cho vừa đảm bảo kế hoạch kinh doanh của mình không bị bóp méo trong khi vẫn thỏa mãn các mục tiêu đã ký kết. Cuối cùng, không phải mọi VC đều giống nhau, hãy chọn nhà đầu tư tâm huyết và thông hiểu dự án của bạn nhất, thiếu điều này mọi sự hợp tác và tiền bạc đều sẽ thành vô nghĩa.

Các trang web 2.0 của Việt Nam

Việt Nam, Đánh giá August 25th, 2006


Khó có thể tìm được một trang web 2.0 đúng nghĩa tại Việt Nam, đơn giản vì khái niệm về Web 2.0 còn khá mới mẻ nhưng tôi xin giới thiệu một vài trang web gần với web 2.0 nhất về mặt ý tưởng.

1. LinhPerfume.com

Chàng trai sinh năm 1981, quê Hải Phòng đã quyết định bỏ học khi đang là sinh viên năm thứ 2 trường ĐH Ngoại thương để đi…buôn khiến cho bố mẹ và bạn bè sửng sốt. “Lúc đó mình thấy việc học không phù hợp và mình phải chọn cho mình một hướng đi riêng”. Với suy nghĩ khá đơn giản đó, Hải Linh đã liều lĩnh dấn thân vào con đường kinh doanh từ hai bàn tay trắng.

Đó là vài dòng giới thiệu về anh Hải Linh chủ trang web LinhPerfume.com – một trong những trang web TMĐT thành công của Việt Nam – trên báo Người Lao Động (xin đọc chi tiết ở đây). Bạn có thể vào trang web này mua nước hoa nhưng điểm độc đáo là bạn có thể tham gia đấu giá hàng ngày một chai nước hoa với giá khởi điểm rất thấp (10.000đ). Chúng ta sẽ phân tích LinhPerfume.com từ cái nhìn của web 2.0 theo các tiêu chí mô hình kinh doanh, thiết kế, khả năng tương tác và tính xã hội hóa/cá nhân hóa của nó.

  • Mô hình kinh doanh: Đây là một mô hình kinh doanh độc đáo, nhất là trong hoàn cảnh “èo uột” của thanh toán điện tử tại Việt Nam. Bí quyết của mô hình kinh doanh trên mạng ở nuớc ta là giao hàng tận nơi. Tất nhiên, lợi thế của nước hoa là (1) giá trị lớn và (2) lợi nhuận cao, nếu không, chi phí giao hàng sẽ vượt quá lãi suất (chưa kể đến việc bị “phá” bằng các đơn hàng giả). Đấu giá là lĩnh vực kinh doanh sôi động nhất hiện nay trên net, LinhPerfume.com đã tận dụng được ưu điểm của phương thích kinh doanh này như một công cụ khuyến mại (promotion).
  • Thiết kế: Rõ ràng đây là một trang web được thiết kế cho “chị em” với tông màu hồng. Giao diện sáng sủa và dễ định hướng, chạy rất tốt trên Firefox nhưng không thể coi là một tác phẩm nghệ thuật vì còn quá nhiều hình động choán chỗ, thiếu chăm chút về đồ họa.
  • Tính tương tác: theo kiểu “cổ điển”, nhấp và đợi (click-and-wait), đây không phải là cách của web 2.0. Sẽ tốt hơn nếu bạn thấy được mô tả chi tiết về loại nước hoa khi di trỏ chuột lên hình minh họa.
  • Tính xã hội/cá nhân: Đây là trang web có tính xã hội hóa tương đối cao thể hiện trong forum và đấu giá, nhưng người dùng không có góc riêng của mình để ghi nhận các loại sản phẩm/nhãn hiệu ưa chuộng. Điều này đặc biệt quan trọng với mặt hàng có độ trung thành về nhãn hiệu cao như nước hoa.
  • Đánh giá chung: LinhPerfume.com là trang web độc đáo về ý tuởng nhưng sẽ còn một bước dài để thực sự là web 2.0.
  • Tỷ lệ web 2.0: 35%


Hình 1: Trang chủ LinhPerfume.com – mô hình kinh doanh kiểu web 2.0

2. VietnamWorks.com

VietnamWorks.com là địa chỉ web được lấy làm trang chủ của nhiều công ty săn đầu người (head-hunter) tại Việt Nam. Đây là trang web đi tiên phong trong lĩnh vực tuyển dụng trực tuyến tại Việt Nam (xin tiết lộ, công việc hiện tại của tôi cũng được offer từ trang web này, cảm ơn!). Trang web này hiện đang do Navigosgroup (cũng là một công ty tư vấn nhân lực) quản lý và một trong những trang web đầu tiên nhận được đầu tư từ quĩ IDG Vietnam (venture capital).

  • Mô hình kinh doanh: Trang web tuyển dụng này do người nước ngoài quản lý hoạt động rất bài bản, đó là lý do đem đến thành công. Dịch vụ tuyển dụng là một “big business” (môt công ty SX hàng tiêu dùng trung bình của Việt Nam mà tôi biết đã phải bỏ hơn 500 triệu hàng năm cho việc này) nên không ngạc nhiên khi VietnamWorks.com nhận được nhiều đầu tư nhất là khi internet đang bùng nổ ở nuớc ta.
  • Thiết kế: Tôi đánh giá rất cao thiết kế mới của trang web này. Tôi tin rằng chủ trang web này rất am hiểu về web 2.0. Giao diện rất chuyên nghiệp và trang nhã (elegant), đề mục rõ ràng và dễ định huớng, đây là một bước tiến dài so với phiên bản đầu tiên. Nếu bạn có ý định thiết kế một web 2.0 thì đây là địa chỉ để học hỏi, tuy nhiên, layout của trang web này vẫn dùng table (nhưng đây không phải là vấn đề quá quan trọng).
  • Tính tương tác: Không áp dụng nhiều những kỹ thuật web mới như Ajax nhưng tính tương tác của trang web khá cao. Ví dụ, khi tạo một hồ sơ xin việc, bạn có thể theo cách thông thường là đi từng bước và chọn theo hướng dẫn hay đơn giản hơn là copy CV có sẵn từ văn bản Word vào. Chức năng tôi đánh giá cao nhất là “Quản lý nghề nghiệp” với các mục như thông báo việc làm hay theo dõi công việc giúp bạn luôn có được các thông tin mới nhất về việc làm phù hợp.
  • Tính xã hội/cá nhân: Mặc dù là trang web tuyển dụng hàng đầu của Việt Nam, VietnamWorks.com có vẻ không chú trọng việc xây dựng cộng đồng (như forum hay blog) để người tìm việc có thể trao đổi kinh nghiệm, bình luận đánh giá về các công việc. Nhưng ngược lại bạn có thể có nhiều tùy chọn để cá nhân hóa việc tìm việc của mình (tôi không rõ các chức năng dành cho nhà tuyển dụng thế nào, nếu bạn nào đã dùng xin đánh giá giùm).
  • Đánh giá chung: Đây là một trang web rất gần với tiêu chuẩn web 2.0. Nếu các nhà quản trị ở đây “mạnh tay” trong việc thay đổi thì có thể phiên bản tiếp theo của VietnamWorks.com sẽ là web 2.0? Chúng ta sẽ chờ xem.
  • Tỷ lệ web 2.0: 65%


Hình 2: VietnamWorks.com – Rất gần với web 2.0
nhưng cần có tính cộng đồng cao hơn

Rất tiếc tôi không nhìn thấy nhiều ảnh hưởng của web 2.0 tới Việt Nam, nhưng hy vọng đây không phải là bài đánh giá toàn vẹn và sẽ có những bài viết khác. Nếu các bạn cho rằng có những web 2.0 tại Việt Nam khác xin e-mail cho tôi. Cảm ơn.

Update: Bài viết này được viết khá lâu (tháng 8/2006) nên không có nhiều giá trị thời sự. Loạt bài mới về Web 2.0 tại Việt Nam đã (và sẽ) được đăng. Xin xem:

8 định nghĩa về Web 2.0?

Căn bản August 24th, 2006


Báo điện tử VNExpress vừa cho đăng bài viết 8 định nghĩa về web 2.0, phản ánh các quan điểm khác nhau về xu hướng này, xin đọc ở đây. Dưới đây là quan điểm của tôi về các định nghĩa này.

  1. Trí thông minh của số đông: Định nghĩa này đề cập đến những trang như Digg (cho phép mọi người tự giới thiệu và đánh giá sức hút, giá trị của một câu chuyện, một bài viết…) hoặc như Google Search (xếp hạng tầm quan trọng của một trang web phụ thuộc vào số lượng và chất lượng các đường link trỏ tới trang đó). Nhưng định nghĩa trên không thể được áp dụng cho Google Maps hay bất cứ mô hình phần mềm dịch vụ SaaS nào như Basecamp (công cụ web cho phép quản lý các dự án), Writely (trình xử lý văn bản trực tuyến), 30boxes (nhật ký lịch trình công việc trên web)…

    Có thể hiểu là trí tuệ tập thể (collective intelligence). Nhưng sao không đề cập tới Wikipedia?

  2. Các ứng dụng web chia sẻ: Quan niệm này đối lập với định nghĩa đầu tiên nhưng lại tương ứng với những chương trình như Basecamp và Writely. Tuy nhiên cụm từ “ứng dụng” không phải lúc nào cũng chính xác. Chẳng hạn, người ta có thể gọi Google Search là một ứng dụng web, nhưng MySpace – cũng thuộc xu thế Web 2.0 – lại không thể được coi là “ứng dụng” bởi nếu thế thì mọi website đều trở thành ứng dụng cả.

    Tôi không đồng ý khi cho rằng MySpace không phải là ứng dụng web. Mọi website không phải đều là ứng dụng web (như VNExpress không phải là ứng dụng vì nó không thực sự có một chức năng “ứng dụng” nào cho người dùng cả), nhưng chắc chắn có thể coi MySpace là ứng dụng web vì nó giúp người dùng thực hiện nhiều việc hơn là… đọc báo.

  3. Web hoạt động như một nền tảng: Khi đưa ra giải thích này, Tim O’Reilly, Giám đốc điều hành công ty O’Reilly Media (Mỹ), ám chỉ các dịch vụ không thể tồn tại mà không có web như eBay, Craigslist, Wikipedia, del.icio.us, Skype và Dodgeball. Nhưng nếu thế mọi cộng đồng trực tuyến khác đều có thể được xếp vào mục này. Nói cách khác, định nghĩa về Web 2.0 này quá rộng.

    Rõ ràng web đang hoạt động như một nền tảng, hay nói chính xác hơn là một hệ thống hỗ tương (ecosystem). Các dịch vụ web sẽ ngày càng phụ thuộc vào nhau hơn, đây là một điều tốt vì chẳng ai có thể làm hết mọi thứ (…trừ Microsoft (!))

  4. Sự tham gia của người sử dụng: Lý giải này nhấn mạnh sụ khác biệt giữa website truyền thống và những dịch vụ mới như YouTube, Flickr và OhMyNews – nơi người đọc và xem nội dung cũng là người đóng góp thông tin – nhưng lại “bỏ rơi” mất các dịch vụ SaaS.

    Tôi không mặn mà lắm với SaaS (mô hình phần mềm hướng dịch vụ) theo định nghĩa nguyên thủy của nó. Web 2.0 có thể coi là một kiểu SaaS nhưng không hoàn toàn, phạm trù của nó bao phủ lên khái niệm này hơn là “bỏ rơi” nó.

  5. Khả năng tương tác và tính năng phong phú: Công nghệ AJAX, CSS… cho phép tạo ra các trang web động, có thể hiển thị đa dạng thông tin hơn. Nhưng rõ ràng MySpace hiện là một trong số những website ít “phong phú” nhất. Ngay cả Google Search, trước khi được trang bị khả năng dự đoán từ khóa hồi đầu năm nay, cũng không sử dụng bất cứ công nghệ “tuyệt vời” nào phía trên cả.

    Rõ ràng công nghệ riêng nó không tạo nên web 2.0 như tôi đã đề cập trong bài viết Nhận dạng web 2.0, nhưng đó là sự lựa chọn tất yếu. Hầu hết các dịch vụ của Google (mail, calendar, analytics…) sau này đều “đậm” các công nghệ nói trên.

  6. Một thuật ngữ được marketing rầm rộ: Đây là suy nghĩ của những người theo chủ nghĩa hoài nghi. Họ cho rằng người hâm mộ và cả các công ty thương mại đứng đằng sau Google Search, Amazon, eBay và Craigslist đã tán tụng chúng quá đà.

    Xin xem thêm bài Tiên đề của web 2.0 về khái niệm Hype.

  7. Lúc nào cũng là bản Beta: Thực ra định nghĩa này là một lời khen ngợi, ý nói các ứng dụng công nghệ Web 2.0 sẽ không bao giờ có “phiên bản chính thức” vì chúng luôn được cập nhật và đổi mới. Đa số các dịch vụ của Google vẫn trong giai đoạn thử nghiệm. Flickr cứ 30 phút lại được thay đổi, chỉnh sửa còn MySpace và nhiều mạng xã hội khác cũng mở rộng tăng tính năng mới vài tuần một lần. Nhưng hệ điều hành Windows và Mac OS vẫn được vá lỗi hàng tháng, chương trình diệt virus cũng liên tục cập nhật mỗi ngày dù chúng đâu có thuộc Web 2.0.

    Cá nhân tôi thích các bản Beta hoàn thiện hơn là các bản chính thức đầy lỗi.

  8. Chẳng là gì cả: Đây là một trong những câu trả lời phổ biến nhất trong các cuộc khảo sát về Web 2.0. Đối với nhiều người sử dụng, các ứng dụng, website, dịch vụ thế hệ mới thực chất chỉ là sự kết hợp lại những tính năng đã có sẵn từ trước. Hơn nữa, Web 2.0 còn quá non trẻ để người ta có thể tin tưởng nó sẽ trở thành “một cái gì đó” quan trọng.

    Thực vậy thì các anh còn viết về nó làm gì???

Nhìn lại, tôi không cho rằng đây là 8 định nghĩa mà chỉ là các mảng khái niệm về Web 2.0 (còn nhiều tranh cãi) và nếu thế thì có thể có 16 hay 32 định nghĩa như vậy.

Nhận dạng Web 2.0

Căn bản August 24th, 2006


Một bạn đã hỏi tôi một câu hỏi thú vị: “Làm sao để phân biệt được đâu là trang web 2.0 và đâu là trang web 1.0?” Đây là một vài điểm dễ nhận thấy nhất.

1. Lắng nghe phương tiện truyền thông

Nhìn chung sự ra đời của các trang web không còn là một sự kiện với bất kỳ ai (vì mỗi ngày có hàng nghìn trang web mới ra đời) trừ phi đó là Web 2.0.

Các trang web 2.0 luôn nhận được nhiều bình luận, đánh giá vì hoặc nó là một dịch vụ mới hoặc nó là đối thủ cạnh tranh với các “ông lớn” như Yahoo, Google, Microsoft. Hơn nữa, những người ưu chuộng kỹ thuật thường cảm thấy thú vị khi làm việc trên một trang web 2.0 hơn các trang web truyền thống và đây cũng là những người hay viết các bình luận, giới thiệu nhất.

2. Xem xét thiết kế

Các trang web 2.0 thường tránh xa kiểu thiết kế 3 cột đầy vẻ “đạo mạo” truyền thống mà sử dụng các mảng nội dung rất nghệ thuật. Đặc biệt các thành phần trên trang web thường có kiểu cạnh tròn (rounded-corner) và đổ bóng nhằm tạo nên một bố cục “mượt mà” hơn. Các trang web 2.0 rất dễ nhận vì có tính biểu tượng cao, giao diện sáng sủa, dễ định hướng. Ví dụ, Clipmarks – một dịch vụ web 2.0 lấy biểu tượng là cái kẹp giấy (điện tử) giúp người dùng đánh dấu, chia sẻ các bài viết ưa thích – có một trang chủ rất điển hình:


Hình 1: Trang chủ Clipmarks – một thiết kế web 2.0 điển hình

Về mặt kỹ thuật thiết kế web, các trang web 2.0 rời bỏ kiểu layout bằng table mà thay vào đó là dùng stylesheet (CSS). Mục tiêu là có thể tùy biến giao diện theo ngữ cảnh hay ý thích của người dùng và tương thích tiêu chuẩn web mới nhất. Các trang web 2.0 phải chạy tốt trên Firefox!

3. Nhanh nhẹn với Ajax + Javascript

Ai đã dùng Gmail thì hẳn nhận thấy sự khác biệt về tốc độ so với Yahoo!Mail, đặc biệt khi nhấn nút “Reply”, phần trả lời của GMail hiện lên tức thì thay vì phài tải cả trang web mới như Yahoo!Mail. Sự khác biệt này là do GMail ứng dụng các công nghệ mới nhất của Web như AJAX và một loạt các kỹ thuật mới sử dụng Javascript (phiên bản Yahoo!Mail mới đang trong giai đọan thử nghiệm cũng là một trang web “đậm đặc” AJAX và dùng không khác gì Outlook!).

Các trang web 2.0 đều tận dụng các công nghệ mới này giúp cho người dùng không còn phải “dài cổ” đợi trang web tải lại sau mỗi thao tác. Bạn sẽ thấy ngay nội dung tóm tắt khi di con trỏ chuột lên một liên kết và có thể viết bình luận rồi gửi đi ngay mà không thấy có bất kỳ sự “xao động” nào trên trang web. Nhiều trang web cho phép bạn kéo và thả các mục nội dung vào những nơi tùy ý… Tóm lại, những thứ “xa xỉ” nhất mà bạn có thể làm trên các ứng dụng desktop thì giờ đây bạn có thể thực hiện trên web 2.0.

4. Bạn là người làm chủ nội dung

Cái cuối cùng mà cũng là cái cốt lõi nhất để tạo nên một dịch vụ web 2.0 là việc bạn chính là người tạo nên nội dung cho trang web đó (hoặc tối thiểu là phần nội dung chính của trang web). Thiếu đi điều này thì trang web dù có được thiết kế “cool” đến đâu, có ứng dụng nhiều kỹ thuật đến đâu cũng chưa thể coi là web 2.0. Ví dụ trang từ điển Ajax của tôi chỉ có thể thỏa mãn về phần thiết kế và kỹ thuật, nhưng không thể coi là web 2.0 vì nội dung của nó vẫn là những cái có sẵn, bạn không thể bổ xung các mục từ mới hay tạo ra một cuốn từ điển cho riêng mình (hmm, tôi sẽ phải biến nó thành web 2.0 vào một ngày đẹp trời nào đó…???).


Hình 2: Từ điển Fast Dictionary – ứng dụng nhiều kỹ thuật web mới
nhưng chưa phải là web 2.0


Trên đây là một vài điểm “nhận dạng” cho một dịch vụ web 2.0. Nhưng xin đừng hiểu lầm rằng web 2.0 chỉ đơn giản có thế, nếu bạn muốn tạo ra một web 2.0 thì chắc chắn bạn sẽ phải tìm hiểu nhiều hơn là chỉ đọc cuốn “Thiết kế web bằng Macromedia trong 24h”!

Web 2.0 – Con Đường Phía Trước

Nhận định August 23rd, 2006


Gần một năm đã qua kể từ khi Tom O’Reilly có bài viết nổi tiếng về Web 2.0 (What’s Web 2.0), rất nhiều trang web 2.0 đã lần lượt ra đời với những thành công và thất bại. Còn bản thân tôi đang viết bài viết này trên Writely.com, một trong những dịch vụ web 2.0 thành công và hữu ích nhất (theo đánh giá của tôi). Nhìn lại những thành bại của web 2.0, có thể thấy không có con đường rải hoa hồng cho bất kỳ một công nghệ nào dù nó có được tung hô đến đâu. Cái cuối cùng còn lại sẽ là những gì thực sự có giá trị. Bài viết này là một cái nhìn lại và thử xem con đường phía trước của các dịch vụ web 2.0 như thế nào.

Web 2.0 từ đâu đến?

Web 2.0 không ra đời từ chỗ “hư không”, đó là sự biến đổi từ lượng (được tích tụ) thành chất, là sự phát triển từ nền tảng web 1.0 còn “sống sót” sau cơn hồng thủy mà người ta quen gọi là quả bong bóng dot-com năm 2001 dẫn tới sự sụp đổ của hàng loạt các công ty cung cấp các dịch vụ trên Internet. Đó là một cơn khủng hoảng tồi tệ và buộc các nhà đầu tư mạo hiểm (venture capitalist) phải thay đổi cách đầu tư vào công nghệ. Câu hỏi đầu tiên cho bất kỳ một dịch vụ web nào mới ra đời không còn là “Triển vọng của dịch vụ này thế nào?” mà là “Dịch vụ này sẽ kiếm tiền bằng cách nào?” – không nhiều người có thể trả lời rõ ràng và tự tin cho câu hỏi này trừ một đó chính là Google.

Google, cỗ máy tìm kiếm phổ biến nhất hiện nay, lặng lẽ thoát ra khỏi quả bong bóng dot-com và chỉ chính thức cổ phần hóa vào năm 2004. Từ đó đến nay giá cổ phiếu của Google đã tăng gần 4 lần và là một trong những cổ phiếu công nghệ hấp dẫn nhất. Trả lời cho câu hỏi “tiền ở đâu?” của Google là AdSense: quảng cáo theo ngữ cảnh, dịch vụ đã góp hơn 95% trong tổng doanh thu khoảng 1,6 tỷ USD (dự đoán năm 2006) của công ty. Nhưng sẽ thật sai lầm nếu bạn nghĩ AdSense chỉ đơn thuần là những quảng cáo trên trang tìm kiếm Google, thực tế bạn có thể bắt gặp AdSense trên bất kỳ trang web nào, ví dụ trên BetaNews.com:

Vì thế, nếu bạn đăng ký quảng cáo trên Google, quảng cáo của bạn sẽ có cơ hội có mặt trên nhiều trang web khác. Adsense không tính phí trên mỗi quảng cáo mà tính phí theo số lần người xem nhấp chuột vào quảng cáo (pay-per-click) và số phí thu từ quảng cáo sẽ được chia giữa Google và trang web đặt quảng cáo mà người xem vừa nhấp chuột. Sáng kiến này đã tạo nên một hệ thống hỗ tương (ecosystem) và mang lại nhiều lợi ích cho tất cả các bên tham gia.

Bài toán “tiền ở đâu?” đã đươc Google giải trọn vẹn và hơn thế nữa nó còn giải bài toán này cho nhiều trang web khác, những trang web có rất nhiều nguời truy cập nhưng lại không có cách nào kiếm tiền từ người dùng. Với Adsense, càng nhiều người truy cập thì sẽ càng có nhiều người nhấp vào quảng cáo (tất nhiên là để xem quảng cáo) và chủ trang web sẽ càng có cơ hội kiếm được nhiều tiền. Đây là động lực lớn để các trang web hướng dịch vụ ra đời và tạo nên trao lưu web 2.0.

Tất nhiên không thể không thể không đề cập tới sự bùng nổ của blog và sự xuất hiện của Wikipedia, nơi mọi người đều có thể tự biên tập và tự đánh dấu thẻ (tag) vào các biên tập của mình (xin xem chi tiết hơn trong bài viết Tiên đề của web 2.0). Một yếu tố thuần túy mang tính kỹ thuật thúc đẩy các trang web 2.0 phát triển là khả năng làm việc trên trang web giống như trên các ứng dụng văn phòng (Word, Excel…) với sự trợ giúp của công nghệ AJAX (xin xem bài Ajax -The technology you CANNOT miss).

Tóm lại, web 2.0 “đến” từ sự tích tụ của các giải pháp tài chính, sự xã hội hóa web và sự chín muồi của công nghệ web. Vậy web 2.0 sẽ đi tới đâu?

Web 2.0 sẽ đi tới đâu?

Có thể là cực đoan khi nói rằng “Web 2.0 sẽ đào mồ chôn các ứng dụng truyền thống“, nhưng sẽ không có gì ngạc nhiên khi xu hướng ấy đang diễn ra. Vì sao tôi viết bài này trên Writely.com thay vì trên Microsoft Word? Không phải vì tôi là người nghiền web 2.0 mà vì các lý do sau:

  • Tôi viết bài này một phần tại văn phòng, một phần tại nhà và tôi không muốn phải chép đi chép lại vào USB disk mỗi ngày. Mỗi khi cần viết tiếp tôi chỉ cần mở Firefox hay IE và làm việc.
  • Writely tự động lưu bài viết sau mỗi 5 giây mà hoàn toàn không làm gián đoạn việc viết lách nên khả năng mất dữ liệu là rất thấp (bạn có thể cấu hình cho Word làm điều tương tự, nhưng tôi tin là bạn sẽ chán ngấy với tốc độ lưu chậm chạp của nó).
  • Tôi viết khá nhiều và viết về nhiều chủ đề khác nhau. Việc tìm kiếm một bài viết trong Windows vừa chậm vừa vất vả. Với Writely tôi có thể tag các bài viết theo chủ đề và tìm kiếm nhanh như… Google!
  • Nếu cần, tôi có thể lưu bài viết này thành dạng .doc, rich text, open document hay .pdf.
  • Cuối cùng là cái quan trọng nhất, tôi có thể xem truớc (preview) và đưa bài viết này lên blog của mình chỉ với một thao tác.

Tất nhiên, hiện tôi vẫn còn cần dùng Word cho các tài liệu phức tạp, nhưng chắc chắn tôi sẽ không có ý định dùng nó để viết bài, viết blog, đặc biệt kể từ khi Google mua lại Writely – một sự đảm bảo cho sự ổn định và tin cậy của dịch vụ Web 2.0 này.

Các dịch vụ web 2.0 mới ra đời gần như mỗi tuần, có những dịch vụ hết sức phức tạp về mặt công nghệ nhưng hầu hết là các dịch vụ đơn giản, chỉ tập chung cho một mục đích rõ ràng. Nếu bạn muốn chia sẻ hình ảnh hay video bạn có thể tìm đến Flickr, YouTube, nếu muốn đọc tin tức tổng hợp thì các web 2.0 rất tốt là Netvibes, FeedBurner, muốn ghi nhớ một bài viết hay địa chỉ web thì không thể bỏ qua del.icio.us, digg… Sẽ phải mất cả ngày (hmm, thực tế là sẽ mất rất nhiều ngày) để dạo quanh hết các gian hàng web 2.0 nhưng tất cả đều có một đích đến là giúp người dùng làm mọi thứ trên web và thay thế các ứng dụng truyền thống.

Những dịch vụ web 2.0 thành công sẽ không phải là những phiên bản bắt chước hay “làm tốt hơn” những ứng dụng desktop mà là những cái cung cấp trị giá gia tăng dựa trên ưu thế của internet như tính liên thông, tính phân tán… của mạng toàn cầu này. Nói một cách dễ hiểu, tôi dùng Writely không phải vì nó “tốt hơn” MS Word về các tính năng như định dạng, kiểm tra chính tả… mà vì nó có khả năng kết hợp với các dịch vụ khác trên mạng như blog và quan trọng hơn là vì tôi có thể sử dụng nó ở bất cứ đâu có kết nối. Cá nhân tôi đặt cược rằng các trang web tương lai sẽ là các mash-up ở hình thức này hay hình thức khác, tức là các dịch vụ web kết hợp từ nhiều nguồn khác nhau.